Chương 1. Các khái niệm cơ bản. Trong chương này, tác giả sẽ nêu tổng quan về An toàn thông tin trong TMĐT, hướng tiếp cận, phương pháp giải quyết. Các bài toán về ATTT trong thỏa thuận và ký kết hợp đồng của TMĐT.
Chương này sẽ giới thiệu những bài toán về ATTT trong giai đoạn thỏa thuận hợp đồng. Tiếp theo là đưa ra các kỹ thuật cụ thể để giải quyết từng bài toán trong giai đoạn này bao gồm: Thủy vân số để xác nhận đúng hợp đồng, Mã hóa AES để mã hóa hợp đồng và chữ ký không thể phủ nhận để ký kết hợp đồng. Thực nghiệm chương trình. Là chương cài đặt, thử nghiệm chương trình ứng dụng mã hóa AES và chữ ký không thể phủ nhận để giải quyết bài toán đặt ra.
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Tổng quan về thƣơng mại điện tử 1. Khái niệm về TMĐT Theo Bill Gates: “Cạnh tranh ngày nay không phải giữa các sản phẩm mà giữa các mô hình kinh doanh”. Điều đó có nghĩa là sự thành công của doanh nghiệp không phải phụ thuộc hoàn toàn vào sản phẩm mà phụ thuộc khá nhiều vào mô hình kinh doanh.
Nếu doanh nghiệp muốn nhận được nhiều cơ hội mới thì cần phải quan tâm nhiều đến thông tin, Internet, Web. Như chúng ta đã biết sự ra đời của công nghệ Web kích thích các doanh nghiệp tham gia và dẫn đến sự ra đời của TMĐT.1: Mô hình đơn giản thương mại điện tử TMĐT được hiểu theo [9] như sau: Việc mua bán hàng hóa, sản phẩm hay dịch vụ trên hệ thống điện tử như Internet và mạng máy tính gọi là Thương mại điện tử (e-commerce). Mặt khác, [9] cũng đưa ra các định nghĩa về khái niệm TMĐT như sau: Theo WTO: "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet". Theo APEC: "TMĐT liên quan đến việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nhóm hoặc các cá nhân chủ yếu là thông qua các giao dịch thương mại dựa trên Internet." 3 z TMĐT [4] được định nghĩa trong Luật mẫu TMĐT của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL): “Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng.
Các quan hệ mang tính chất thương mại bao gồm: bất cứ giao dịch nào về thương mại, giao dịch nào về cung cấp, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, cho thuê dài hạn, ủy thác hoa hồng, tư vấn, xây dựng các công trình, đầu tư, cấp vốn, kỹ thuật công trình, bảo hiểm, ngân hàng, tô nhượng hoặc thỏa thuận khai thác, liên doanh với các hình thức khác về kinh doanh hoặc hợp tác công nghiệp, chuyên chở hành khách hay hàng hóa bằng đường không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ.” Ngoài ra, [11] cũng chỉ ra rằng: “TMĐT là hoạt động kinh doanh trực tuyến. Việc bán hàng theo cách truyền thống giờ đây có thể được thực hiện bằng điện tử do một phần mềm nào đó lập trình chạy các chức năng chính của một website2 TMĐT bao gồm: hiển thị sản phẩm, đặt hàng trực tuyến và quản lý hàng tồn kho. Phần mềm này tập trung trên một máy chủ thương mại và làm việc chung với các hệ thống thanh toán trực tuyến để xử lý thanh toán. Vì vậy những máy chủ và đường truyền dữ liệu này tạo nên sức mạnh của Internet, theo nghĩa rộng TMĐT có nghĩa là kinh doanh trên mạng kết nối với nhau.” Các học giả nghiên cứu tại đại học Texas3 cho rằng TMĐT và kinh doanh điện tử4 đều bị bao hàm bởi nền kinh tế Internet.
Như vậy chúng ta có thể hiểu rằng TMĐT chỉ có thể xảy ra khi việc kinh doanh được thực hiện trong mạng Internet. Vai trò tác động của TMĐT Cùng với sự ra đời và phát triển của Internet cũng như World Wide Web5 thì TMĐT ngày càng phát triển và khẳng định vị thế của nó trong đời sống xã hội. Trong hoạt động kinh doanh, TMĐT góp những vai trò đáng kể [2]: Với doanh nghiệp: So với thương mại truyền thống TMĐT giúp cho các doanh nghiệp có thể tương tác với nhau, tìm kiếm khách hàng tiện lợi hơn, nhanh hơn với chi phí thấp hơn nhiều. TMĐT dẫn đến việc cạnh tranh toàn cầu phát triển.
2 Website là tập hợp trang web, thông thường chỉ nằm trong một tên miền hay tên miền phụ trên World Wide Web của Internet. 3 Texas là viện đại học chuyên về nghiên cứu của tiểu bang Texas – Hoa Kỳ. 4 Kinh doanh điện tử là việc sử dụng Internet, sử dụng các công nghệ trực tuyến tạo ra quá trình kinh doanh hiệu quả cho dù việc có hay không có lợi nhuận, do đó tăng lợi ích với khách hàng. 5 Gọi tắt là Web hay WWW- mạng lưới toàn cầu là không gian thông tin mà mọi người có thể đọc và viết (truy cập) thông qua các máy tính nối mạng Internet.
4 z Nhờ sự ra đời của TMĐT các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn hơn. Nó giúp các doanh nghiệp này có thể giới thiệu hàng hóa hay sản phẩm của mình đến khách hàng một cách nhanh chóng, tự động mà lại giảm chi phí liên lạc, giảm chi phí giao dịch và marketing. Với người tiêu dùng: Nhờ vào TMĐT, người mua có thể nghiên cứu, tìm hiểu hàng hóa, sản phẩm và các dịch vụ kèm theo một cách tiện lợi và nhanh nhất có thể. Họ có thể so sánh chất lượng cũng như giá cả của hàng hóa để có sự lựa chọn tốt nhất.
Internet cách mạng hoá marketing trực tiếp và marketing bán lẻ. Người tiêu dùng có thể mua sắm bất kì sản phẩm hàng hóa nào của những nhà sản xuất và bán lẻ trên khắp thế giới…Tất cả đều có thể thực hiện ngay tại nhà.2: Khảo sát giá trị mua hàng trực tuyến của người dùng Việt Nam 2015 Với ngành ngân hàng và các ngành dịch vụ khác: Khi TMĐT phát triển ngành ngân hàng từ giữ tiền truyền thống đã chuyển sang lưu trữ, giao dịch và quản lý đồng tiền số dựa vào Internet và TMĐT…Ngoài ra, các ngành như: giáo dục, tư vấn, thiết kế, marketing và rất nhiều những dịch vụ tương ứng đã và đang thay đổi rất nhiều về cách thức, chất lượng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Doanh thu từ TMĐT chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong doanh thu thương mại.Doanh nghiệp và người tiêu dùng từ các quốc gia khác nhau trên thế giới tham gia vào TMĐT ngày càng nhiều, chẳng hạn: Một báo cáo gần đây [13] từ dịch vụ khảo sát trực tuyến Q&Me đã đưa ra nhiều thống kê mới về thị trường TMĐT Việt Nam so sánh với các quốc gia khác. Theo đó, doanh thu bán hàng TMĐT của Việt Nam đã đạt 4,07 tỷ USD.
So với Quốc gia có nền TMĐT hàng đầu thế giới là Mỹ, quy mô Việt Nam chỉ bằng 1/83 lần. So với Nhật Bản, với mức doanh thu năm 2015 là 106,6 tỷ USD, quy mô TMĐT nước này gấp đúng 26 lần Việt Nam. Mặc dù quy mô TMĐT của Việt Nam còn nhỏ nhưng tốc độ tăng trưởng lại rất nhanh. Năm 2013 và 2014, tổng doanh thu từ TMĐT Việt Nam lần lượt cán mốc 2,2 tỷ USD và 2,97 tỷ USD.
Như vậy mức tăng trưởng trong hai năm này lần lượt là 35% và 37%. Trong 2 năm này, tốc độ tăng trưởng của TMĐT Nhật Bản là 17% và 15%. TMĐT Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn TMĐT Nhật Bản.3: Biểu đồ Quy mô TMĐT Việt Nam (tỷ USD). Có thể nói, trong mắt các chuyên gia trong và ngoài ngành, TMĐT Việt Nam vẫn còn đầy tiềm năng, “đang ngủ yên chưa được đánh thức”.
Điều này củng cố bởi sự tăng lên của tổng số người dùng Internet tại Việt Nam, của tỷ lệ người dùng tin tưởng mua hàng trên các kênh trực tuyến và kỳ vọng vào sự xuất hiện của các hình thức mua sắm trực tuyến. Dưới đây là việc khảo sát mức độ ứng dụng TMĐT ở Việt Nam ở các độ tuổi từ dưới 15 đến 49 tuổi cho thấy sự ảnh hưởng của TMĐT đến các độ tuổi có sự chênh lệch khá lớn: Hình 1.4: Biểu đồ so sánh mức độ ứng dụng TMĐT ở Việt Nam 1. Các đặc trƣng của TMĐT Những điểm khác biệt cơ bản [4] của TMĐT so với các hoạt động Thương mại truyền thống: Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. 6 z Thương mại truyền thống thì các bên thường trực tiếp gặp nhau tiến hành giao dịch.
Các giao dịch thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc như vận đơn, chuyển tiền, gửi báo cáo, séc hóa đơn. Các phương tiện viễn thông như: fax, telex,. chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinh doanh. Mọi người đều có thể tham gia vào TMĐT từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu đô thị lớn, điều đó chứng tỏ tất cả mọi người ở khắp nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không nhất thiết đòi hỏi phải có mối quen biết với nhau từ trước.
Các giao dịch của TMĐT được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu) còn các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia. TMĐT tác động trực tiếp tới môi trường cạnh tranh toàn cầu. Máy tính cá nhân giúp cho doanh nghiệp hướng ra thị trường trên toàn thế giới. Trước kia phải mất nhiều năm thì các doanh nhân mới thành lập mới có thể kinh doanh ở các nước như Nhật Bản, Đức, Chile…nhưng nhờ vào sự phát triển của TMĐT thì điều đó hoàn toàn có thể mà không phải bước ra khỏi nhà chỉ cần một chiếc máy tính kết nối Internet.
Trong giao dịch TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó có người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực là bên không thể thiếu được. Trong TMĐT, bên thứ ba đó là các cơ quan chứng thực, nhà cung cấp dịch vụ mạng. là những người tạo ra môi trường cho các giao dịch TMĐT. Cơ quan chứng thực và nhà cung cấp dịch vụ mạng có nhiệm vụ chuyển, lưu giữ và xác nhận độ tin cậy thông tin giữa các bên tham gia giao dịch TMĐT.