Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm sử dụng trong luận án - “Thực dân hóa”. Thực dân hóa thực chất là một quá trình mà các nước thực dân phương Tây tiến hành xâm lược các nước nhỏ, yếu để biến các nước này thành thuộc địa hoặc phụ thuộc vào chính quốc. Sau quá trình xâm lược đó, các nước thực dân phương Tây sẽ tiến hành khai thác các nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và con người tại các nước thuộc địa để làm giàu cho quốc gia mình.
Đặc biệt, sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1939-1945), nhiều nước thuộc địa hoặc nước phụ thuộc vào chính quốc đã giành được độc lập từ tay chủ nghĩa phát xít. Do đó, các nước thực dân phương Tây đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược trở lại đối với các nước thuộc địa. Vì vậy, có thể khẳng định khái niệm “thực dân hóa” thực chất là quá trình xâm lược thuộc địa, khái thác các nguồn lợi tại thuộc địa và tái chiếm các thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây đối với các nước nhỏ yếu. - Ngân hàng Đông Dương: là một tổ chức đặc quyền của tư bản Pháp với 3 chức năng chủ yếu: phát hành giấy bạc (tiền giấy), kinh doanh thương mại và đầu tư tài chính.
Ngân hàng Đông Dương do một nhóm các nhà tài phiệt Pháp sáng lập ra vào ngày 21/01/1875 tại Thủ đô Paris của nước Pháp. Ngân hàng Đông Dương được Chính phủ Pháp ban cho đặc quyền phát hành giấy bạc trong thời hạn 20 năm và được Chính phủ Pháp tái gia hạn cho đặc quyền phát hành giấy bạc trong nhiều lần. Sau những lần tái gia hạn cho đặc quyền phát hành giấy bạc đó, Ngân hàng Đông Dương đã không ngừng kinh doanh phát đạt. Số hoa lợi thu được ngày càng nhiều.
Nhờ vậy, Ngân hàng Đông Dương đã trở thành chỗ dựa tài chính cho quá trình thực dân Pháp tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và khai thác các nguồn lợi tại Việt Nam mang về làm giàu cho chính quốc. Song song đó, Ngân hàng Đông Dương còn là nơi hậu thuẫn tài chính một cách đắc lực để thực dân Pháp quay lại tái xâm lược Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ hai. 8 - Chi nhánh Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam: là tập hợp các chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương đã khai trương và đi vào hoạt động kinh doanh ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc. Dưới thời kỳ Pháp thuộc, Hội đồng quản trị Ngân hàng Đông Dương ở Paris (Pháp) đã xây dựng được một hệ thống các chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương trên khắp lãnh thổ Việt Nam trải dài từ Bắc vô Nam.
Bao gồm: chi nhánh Sài Gòn (1875); chi nhánh Hải Phòng (1885); chi nhánh Hà Nội (1886); chi nhánh Đà Nẵng (1891); chi nhánh Nam Định (1926); chi nhánh Cần Thơ (1926); chi nhánh Vinh (1927); chi nhánh Quy Nhơn (1928); chi nhánh Huế (1929) và chi nhánh Đà Lạt (1943) (Phạm Quang Trung, 1997, tr. Mỗi chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam đều đặt một chức giám đốc; 2 phó giám đốc; 1 kế toán viên và các nhân viên giao dịch. Ở mỗi chi nhánh tại Việt Nam, Hội đồng quản trị Ngân hàng Đông Dương ở Paris đều cấp cho một số tiền vốn nhất định để hoạt động kinh doanh. Nếu chi nhánh nào mượn tiền của chi nhánh khác để kinh doanh (vì tìm kiếm được nhiều khách hàng) thì cũng phải trả lại tiền vốn cho chi nhánh đó và kèm theo một khoản lãi suất theo quy định của Hội đồng quản trị Ngân hàng Đông Dương ở Paris.
Cứ mỗi sáu tháng trong năm, các chi nhánh Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam đều phải báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của mình gửi về trụ sở chính ở Paris. Nếu các chi nhánh nào làm ăn thua lỗ hoặc hoạt động kém hiệu quả thì lúc đó, Hội đồng quản trị Ngân hàng Đông Dương ở Paris sẽ can thiệp và có những sự điều chỉnh phù hợp để giúp chi nhánh vượt qua, còn không sẽ đóng cửa chi nhánh. Ngược lại, nếu các chi nhánh ở Việt Nam kinh doanh có nhiều lợi nhuận thì các chi nhánh sẽ hoàn trả lại số tiền mà trụ sở chính ở Paris đã cho mượn, đồng thời, các chi nhánh này còn phải nộp về cho trụ sở chính ở Paris 1/4 số tiền lãi kiếm được (nộp 6 tháng/năm); 3/4 số tiền lãi còn lại, các chi nhánh có quyền: chi 2/4 số tiền lãi này cho các thành viên của chi nhánh và 1/4 số tiền lãi còn lại bỏ vào quỹ dự phòng của chi nhánh. Các chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam hoạt động hoàn toàn độc lập và không phụ thuộc vào nhau.
Điểm đặc biệt của các chi nhánh Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam là mỗi một chi nhánh có chức năng nhiệm vụ khác nhau. Do đó, các chi nhánh sẽ tránh được các rủi ro vì sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành dựt các khách hàng để tìm kiếm lợi nhuận. 9 - Viện phát hành tiền tệ của các Quốc gia Liên kết Việt Nam - Lào - Campuchia: là cơ quan phát hành tiền tệ của ba quốc gia thân Pháp do người Pháp dựng lên. Cơ quan này ra đời dựa trên các bản hiệp định đã ký kết giữa chính phủ Pháp với chính phủ bù nhìn Việt Nam ngày 8/3/1949; chính phủ bù nhìn Lào ngày 19/7/1949 và chính phủ bù nhìn Campuchia ngày 8/11/1949.
Sau khi ký xong hiệp ước với các chính phủ bù nhìn này, một thỏa ước Liên bang Đông Dương đã ra đời và quyết định thành lập một cơ quan lấy tên là Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết Campuchia, Lào và Việt Nam (Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam). Cơ quan phát hành này đặt trụ sở chính tại Phnom Penh và có các chi nhánh tại Paris, Hà Nội, Huế, Sài Gòn và ở những nơi khác nếu cần. Ban quản trị của Viện Phát hành các quốc gia liên kết có 12 người gồm: 06 người Pháp, 02 người Việt, 02 người Miên và 02 người Lào. Cơ quan này bắt đầu hoạt động từ năm 1952 có nhiệm vụ phát hành giấy bạc cho ba quốc gia liên kết Việt Nam-Lào- Campuchia nằm trong Khối Liên hiệp Pháp sau khi Ngân hàng Đông Dương đã từ bỏ đặc quyền phát hành giấy bạc của mình và trao trả về cho Chính phủ Pháp quản lý.
Ngay tức khắc, thực dân Pháp đã nghĩ ra cơ quan siêu phát hành giấy bạc này để cột chặt ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia vào nước Pháp. Điều này được thể hiện bằng việc, Chính phủ Pháp đã giả vờ trao trả lại chủ quyền phát hành tiền tệ về cho ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia. Thế nhưng khi một trong ba quốc gia này muốn phát hành giấy bạc thì phải được sự đồng ý của hai quốc gia còn lại và phải có ý kiến đại diện của Chính phủ Pháp thì mới được phát hành tiền tệ. Điều này thật sự rất khó thực hiện cho ba quốc gia liên kết vì số thành viên đại diện cho tiếng nói của Chính phủ Pháp luôn áp đảo ba quốc gia liên kết.
Do đó, cơ quan này ra đời và hoạt động chẳng được bao lâu thì bị giải thể, vì chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp thất bại hoàn toàn và phải ký kết Hiệp định Genève, cam kết rút hết mọi dính líu trong cuộc chiến tranh tái xâm lược Đông Dương lần thứ 2. Cũng vì vậy chủ quyền phát tiền tệ của ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia được trao trả về cho ba quốc gia này. Ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra đời, liền cho thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Ngay tức khắc, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam liền ấn định tiền tệ ở miền Việt Nam là 10 “đồng bạc Việt Nam (kí hiệu: đ)” để thay thế cho đồng bạc Đông Dương và đồng bạc Liên bang.
Ấn định tỷ giá hối đoái chính thức của đồng bạc Việt Nam với đồng Dollar Mỹ là: 35 đ = 1 USD và 1 đ = 10 Francs. Ở hai quốc gia còn lại cũng thành lập ngân hàng phát hành tiền tệ riêng cho mỗi nước. Quốc gia Lào là Ngân hàng Quốc gia Lào và quốc gia Campuchia là Ngân hàng Hoàng gia Campuchia. Tuy chỉ ra đời trong một khoảng thời gian ngắn (1952-1954), Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết Việt Nam-Lào-Campuchia cũng đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hành giấy bạc cho lãnh thổ Đông Dương.
Những tờ giấy bạc này tiếp tục sử dụng các mẫu mã, kích cỡ, màu sắc cũ,. của những tờ giấy bạc do Ngân hàng hàng Đông Dương phát hành. Vì vậy, những tờ giấy bạc do Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết Việt Nam-Lào-Campuchia vẫn được nhân dân ở ba nước Đông Dương (vùng lãnh thổ do thực dân Pháp kiểm soát) tín nhiệm và chấp nhận sử dụng trong lưu thông, trao đổi hàng hóa và tích lũy tài sản. - Giới tư bản tài chính: theo V.
Lenin nói: “tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất, với tư bản của những liên minh độc quyền các nhà công nghiệp”. Sự liên minh của hai nhóm độc quyền này đã tạo ra “giới tư bản tài chính”. Giới tư bản tài chính thông qua hình thức sở hữu cổ phần của nhau để nắm quyền chi phối và kiểm soát các đại công ty, các xí nghiệp và các ngân hàng lớn của một quốc gia. Từ đó, họ lũng đoạn thị trường, nắm quyền định đoạt giá cả, nguyên vật liệu đầu vào,.
để thu về nhiều lợi nhuận nhất. Lenin đã gọi nhóm tài phiệt này là “bọn đầu sỏ tài chính”. Ở Pháp, vào khoảng giữa thế kỉ XIX, sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển, kéo theo đó là sự nở rộ của hệ thống các ngân hàng lớn ở Paris, Lyon. Do đó mà ông chủ của những nhóm sản xuất, kinh doanh này đã kết hợp nhau lại để hình thành nên “giới tư bản tài chính Paris”.
Nhóm tài phiệt này, sở hữu cổ phần trong các công ty, xí nghiệp và các ngân hàng lớn của nhau và trở thành những cổ đông quan trọng có tiếng nói quyết định trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Họ chia nhau nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong các công ty, xí nghiệp và các ngân hàng lớn ở Paris, Lyon. Nhóm tài phiệt này, cất kết chặt chẽ vào nhau, hỗ trợ nhau 11 trong việc lũng đoạn thị trường, định đoạt giá cả, nguyên vật liệu đầu vào,.