LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Năng lực tài chính là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thƣơng mại (NHTM). Ngày nay, các NHTM ráo riết chạy đua trong việc đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, đổi mới công nghệ hay nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực nhằm thu hút khách hàng. Tuy nhiên, nếu các NHTM không chú trọng đến tiềm lực tài chính, không củng cố và nâng cao năng lực tài chính thì hoạt động kinh doanh sẽ gặp nhiều trở ngại.
Đặc biệt, do ảnh hƣởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu và tình hình lạm phát cao trong nƣớc, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam gặp không ít khó khăn trong vấn đề huy động vốn, xử lý nợ xấu… Đồng thời, trƣớc đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2011 – 2015” do Chính phủ phê duyệt thì việc nâng cao năng lực tài chính là vấn đề sống còn của các NHTMCP Việt Nam trƣớc xu thế hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt. Hoạt động sáp nhập, mua lại ngân hàng khá phổ biến ở các quốc gia phát triển. Đặc biệt, sau mỗi cuộc khủng hoảng tài chính thì làn sóng sáp nhập, mua lại ngân hàng lại diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Hoạt động này đã cải tổ lại hệ thống ngân hàng, tạo nên những tập đoàn tài chính ngân hàng vững mạnh.
Trong đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, giải pháp sáp nhập, hợp nhất, mua lại cũng đƣợc Chính phủ khuyến khích thực hiện. Nếu hoạt động sáp nhập và mua lại diễn ra một cách mạnh mẽ và có bài bản sẽ góp phần nâng cao năng lực tài chính của các NHTMCP Việt Nam, tạo ra một hệ thống ngân hàng lành mạnh, hiệu quả, hoạt động ngày càng phù hợp hơn với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, có sức sống và khả năng cạnh tranh tốt trong môi trƣờng kinh tế trong nƣớc và quốc tế đầy biến động. Xuất phát từ thực tế trên, tác giả chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thông qua hoạt động sáp nhập và mua lại” làm luận văn tốt nghiệp cao học. Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu tổng quát Phân tích vai trò của hoạt động sáp nhập và mua lại trong việc nâng cao năng lực tài chính của hệ thống NHTMCP Việt Nam. Mục tiêu cụ thể Làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về năng lực tài chính và nâng cao năng lực tài chính của NHTM. Bên cạnh đó, cũng làm rõ một số lý luận liên quan đến hoạt động sáp nhập, mua lại ngân hàng và vai trò của hoạt động sáp nhập, mua lại trong việc nâng cao năng lực tài chính của NHTM. Khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực tài chính của hệ thống NHTMCP Việt Nam và thực tiễn nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thông qua hoạt động sáp nhập và mua lại; từ đó đánh giá vai trò của hoạt động sáp nhập, mua lại ngân hàng trong việc nâng cao năng lực tài chính của NHTMCP Việt Nam.
Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng lực tài chính của các NHTMCP Việt Nam thông qua hoạt động sáp nhập và mua lại. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Hệ thống khái niệm về năng lực tài chính của NHTM, về sáp nhập, mua lại ngân hàng và vai trò của hoạt động sáp nhập, mua lại trong việc nâng cao năng lực tài chính của NHTM. Phạm vi nghiên cứu: Trọng tâm nghiên cứu là thực trạng năng lực tài chính của các NHTMCP Việt Nam và thực tiễn hoạt động sáp nhập, mua lại ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2012, từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới – WTO. Phƣơng pháp nghiên cứu Sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học kết hợp với các phƣơng pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích… đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của luận văn.
Đồng thời, tiếp thu ý kiến của nhiều chuyên gia, cán bộ quản lý, điều hành về các vấn đề có liên quan để hoàn thiện giải pháp. Nội dung Nội dung của luận văn gồm ba phần chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực tài chính của NHTM và hoạt động sáp nhập, mua lại ngân hàng. Chƣơng 2: Thực tiễn nâng cao năng lực tài chính của các NHTMCP Việt Nam thông qua hoạt động sáp nhập, mua lại. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của các NHTMCP Việt Nam thông qua hoạt động sáp nhập, mua lại.
1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NHTM VÀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP, MUA LẠI NGÂN HÀNG 1. Lý luận về năng lực tài chính của NHTM 1. Khái niệm về năng lực tài chính của NHTM Năng lực tài chính không phải là một khái niệm mới, song từ trƣớc đến nay khái niệm này chƣa đƣợc nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống. Theo từ điển tiếng Việt, “năng lực” là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
“Tài chính” là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội, nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội. Tài chính là sự vận động của tiền tệ chỉ với 2 chức năng là phƣơng tiện thanh toán và phƣơng tiện cất trữ và với đặc tính riêng của tài chính trong phân phối là luôn gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định. Nếu nhƣ năng lực tài chính của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, tổ chức lƣu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lƣợng tài sản và khả năng sinh lời… đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh đƣợc tiến hành bình thƣờng thì năng lực tài chính của một NHTM là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện ở quy mô vốn tự có, chất lƣợng tài sản, chất lƣợng nguồn vốn, khả năng sinh lời và khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh. Nói cách khác, năng lực tài chính là khả năng, là sức mạnh nội lực giúp ngân hàng có thể phản ứng linh hoạt trƣớc mỗi sự thay đổi tích cực hay tiêu cực của thị trƣờng nhƣ khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh kiếm lời hay chính là sức đề kháng của ngân hàng trƣớc những rủi ro phải đối mặt.
Năng lực tài chính không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn là sức mạnh tài chính tiềm năng, triển vọng và xu hƣớng phát triển trong tƣơng lai của ngân hàng. Năng lực tài chính của một NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng. 2 Năng lực tài chính của một NHTM càng cao sẽ hạn chế mức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng, đồng thời góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trƣờng. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của NHTM Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá năng lực tài chính của một NHTM, cơ bản bao gồm các chỉ tiêu nhƣ: quy mô vốn, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, chất lƣợng tài sản, khả năng thanh khoản, khả năng sinh lời.
Quy mô vốn tự có Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và đƣợc bổ sung trong quá trình kinh doanh dƣới dạng lợi nhuận giữ lại. Về mặt quản lý, theo các cơ quan quản lý ngân hàng, vốn tự có của ngân hàng đƣợc chia thành hai loại: + Vốn cấp 1 (vốn tự có cơ bản): Là phần vốn tự có hình thành ban đầu và đƣợc bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Đây là nguồn vốn tƣơng đối ổn định; bao gồm: Vốn điều lệ (vốn ngân sách Nhà nƣớc cấp, vốn cổ phần thƣờng, vốn cổ phần ƣu đãi vĩnh viễn), quỹ dự trữ, dự phòng, thặng dƣ vốn, lợi nhuận không chia và các khoản khác. + Vốn cấp 2 (vốn tự có bổ sung): Là nguồn vốn tăng thêm khi ngân hàng đã đi vào hoạt động và phụ thuộc vào nguồn vốn tự có cơ bản về quy mô và có tính ổn định thấp.
Vốn tự có bổ sung bao gồm vốn cổ phần ƣu đãi có thời hạn, tín phiếu vốn, trái phiếu chuyển đổi. Vốn tự có có chức năng bảo vệ NHTM, giúp NHTM chống lại rủi ro phá sản, bù đắp những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ; bảo vệ cho khách hàng (ngƣời ký thác) không bị mất vốn khi gửi tiền tại ngân hàng, nâng cao uy tín của NHTM với khách hàng, các nhà đầu tƣ. Vốn tự có còn có chức năng hoạt động, tức khả năng tạo ra lợi nhuận cho NHTM do vốn tự có có thể đƣợc sử dụng để cho vay, hùn vốn hoặc đầu tƣ chứng khoán. Ngoài ra, vốn tự có là đối tƣợng mà các cơ quan quản lý ngân hàng thƣờng căn cứ vào đó để xác định các tỷ lệ an toàn và ban hành những quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng, là tiêu chuẩn để xác định 3 mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng (chức năng điều chỉnh).
Vì vậy, có thể khẳng định: Vốn là yếu tố quan trọng đối với NHTM, vì vốn tự có của NHTM nói lên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của NHTM trên thị trƣờng trong nƣớc. Đồng thời, vốn tự có đó cũng là cơ sở để NHTM mở rộng hoạt động tới các thị trƣờng tài chính khu vực và quốc tế. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Theo Hiệp ƣớc Basel về an toàn vốn, yêu cầu các ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra. Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn của ngân hàng, do đó mức vốn này cũng đƣợc hiểu là mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của ngân hàng đó.