Chương 1 HIỆN TRẠNG LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI TRUNG ÁP Ở VIỆT NAM 1. ĐẶC ĐIỂM CỦA LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI TRUNG ÁP Lưới phân phối gồm lưới phân phối trung áp và lưới phân phối hạ áp. Lưới phân phối trung áp có điện từ 6-35kV, lấy điện từ các trạm trung gian rồi cấp cho các trạm phân phối hạ áp. Lưới phân phối hạ áp có cấp điện áp 380/220V hoặc 220/110V cấp điện trực tiếp cho các hộ tiêu thụ điện.
Trong đề tài chỉ khảo sát đến lưới điện phân phối trung áp. Lượng điện năng bị mất chủ yếu do sự cố và ngừng điện kế hoạch của lưới phân phối. Lượng vốn đầu tư cho lưới phân phối là khá lớn: Vốn cho lưới phân phối và truyền tải thường là 50% tổng vốn đầu tư cho hệ thống điện. Tỷ lệ tổn thất điện năng trên lưới chiếm tỷ lệ lớn khoảng 40-50% tổn thất toàn hệ thống.
Lưới điện phân phối trung áp là lưới điện trực tiếp chuyển tải điện năng từ các trạm biến áp trung gian đến các trạm biến áp hạ áp cung cấp cho khách hàng, các đường dây phân phối trung áp thường được vận hành hở dạng lưới trục chính không phân đoạn, trục chính phân đoạn, mạch vòng kín vận hành hở… Thông thường lưới phân phối có số lượng các phần tử cao hơn nhiều so với các thành phần khác trong hệ thống điện nên xác suất sự cố cũng cao hơn nhiều. Vì vậy, để đảm bảo cung cấp điện cho khách hàng hầu hết các tuyến đường dây đều có mạch vòng liên kết với các đường dây, các nguồn kế cận. Việc khôi phục cung cấp điện cho các hộ phụ tải sẽ giảm được rất nhiều thời gian bằng các thao tác đóng cắt tự động các thiết bị phân đoạn nằm trong mạch vòng. Thời gian phục hồi cung cấp điện cho các hộ tiêu thụ điện phụ thuộc vào khả năng tải của đường dây và nguồn dự phòng, vào khả năng tự động của các thiết bị phân đoạn.
nguyÔn v¨n h¶i - líp cao häc kü thuËt ®iÖn 2007-2009 4 Lưới phân phối trung áp có đặc điểm là mỗi một đường dây phân phối thường có nhiều loại phụ tải khác nhau (phụ tải sinh hoạt, chiếu sáng công cộng, thương mại dịch vụ, nhà máy, phân xưởng sản xuất…) các loại phụ tải này phân bố một cách ngẫu nhiên không đồng đều trên các lộ đường dây và chúng có thời điểm sử dụng công suất lớn nhất khác nhau thay đổi trong ngày, trong tuần và trong mùa. Vì thế trên các đường dây đồ thị phụ tải luôn thay đổi, không bằng phẳng, có thể gây ra hiện tượng quá tải tạm thời và tăng suất tổn thất của các lộ đường dây trong lưới điện phân phối trung áo. Sự ảnh hưởng này nặng nề nhất là với các cấu trúc lưới điện phân phối trục chính có một nguồn cung cấp, các lưới phân phối dạng trục chính thường xuyên bị quá tải vào các thời gian phụ tải cực đại trong ngày và trong mùa, tổn thất công suất trên các đoạn đầu nguồn là rất lớn, hay xảy ra sự cố. Ngoài ra sơ đồ lưới cung cấp điện trục chính còn có nhược điểm là độ tin cậy cung cấp điện thấp khi xảy ra sự cố điện, hoặc ít nhất thì các phần tử từ phân đoạn bị sự cố trở đi (theo hướng đi của dòng công suất) sẽ bị mất điện.
Để khắc phục nhược điểm này người ta dùng sơ đồ lưới phân phối kín vận hành hở có nhiều thiết bị phân đoạn và nhiều nguồn cung cấp. Lưới phân phối trung áp được phân loại theo các cách sau: - Theo đối tượng và địa bàn phục vụ gồm có: + Lưới phân phối thành phố + Lưới phân phối nông thôn. + Lưới phân phối xí nghiệp - Theo không gian cấu trúc gồm: + Lưới phân phối trên không. + Lưới phân phối cáp ngầm.
- Theo cấu trúc lưới: + Lưới phân phối trục chính phân đoạn và không phân đoạn. nguyÔn v¨n h¶i - líp cao häc kü thuËt ®iÖn 2007-2009 5 + Lưới phân phối kín vận hành hở. + Hệ thống phân phối điện. Lưới trục chính phân đoạn và không phân đoạn còn được xếp vào loại “cấu trúc tĩnh”, là cấu trúc không thể thay đổi sơ đồ vận hành.
Khi cần bảo dưỡng hay bị sự cố thì toàn bộ hay một phần lưới phân phối phải ngừng cung cấp điện. Lưới kín vận hành hở còn được gọi là “cấu trúc động không hoàn toàn”do có thể thay đổi được sơ đồ vận hành. Ngoài ra lưới cấu trúc phân phối còn được chia thành “cấu trúc phát triển”(còn phát triển theo thời gian, không gian và cấu trúc “bão hòa” do phụ tải bão hòa không tăng thêm theo thời gian và không gian). Khi thiết kế, quy hoạch sơ đồ lưới có cấu trúc phát triển được chọn theo tình huống cụ thể và có tính đến sự phát triển trong tương lai.
Còn đối với lưới bão hòa, các sơ đồ thiết kế thường là chuẩn có sẵn mẫu tối ưu. Lưới phân phối thường được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn sau: + Chất lượng điện áp. + Độ tin cậy cung cấp điện. + Hiệu quả kinh tế (giá thành truyền tải điện nhỏ nhất).
+ Độ an toàn cho người, thiết bị, nguy cơ hỏa hoạn. + Độ linh hoạt trong vận hành. + Lưới phân phối kín, vận hành hở. + Ảnh hưởng tới môi trường.
Các phần tử chính của lưới phân phối gồm có: Máy biến áp trung gian, máy biến áp phân phối, đường dây điện (dây dẫn và phụ kiện); các thiết bị đóng cắt và bảo vệ (Máy cắt vào dao cách ly, cầu chì, hệ thống bảo vệ rơle…); các thiết bị điều chỉnh điện áp, thiết bị thay đổi đầu phân áp dưới tải, tụ bù, thiết bị đối xứng hóa, thiết bị lọc hài bậc cao…); thiết bị nâng cao độ nguyÔn v¨n h¶i - líp cao häc kü thuËt ®iÖn 2007-2009 6 tin cậy (Tự động đóng lắp lại, tự động đóng nguồn dự trữ…); thiết bị đo lường, điều khiển từ xa…. Lịch sử phát triển và tồn tại của lưới phân phối trung áp ở Việt Nam Lưới phân phối trung áp ở Việt Nam có lịch sử hình thành phức tạp bao gồm nhiều cấp biến điện áp 35, 22, 15, 10, 16 kV phân chia theo 3 miền với những đặc điểm lịch sử và công nghệ khác nhau. Trong đó lưới 22kV mới xuất hiện từ năm 1995 theo yêu cầu chuẩn hóa lưới điện trung áp. Lưới phân phối miền Bắc: Mạng lưới phân phối bao gồm các cáp điện 35, 22, 10, 6kV đường dây trên không và cáp ngầm trong đó lưới điện 22kV chỉ mới được xây dựng tại một số tỉnh thành phố lớn với khối lượng không lớn.
Mạng lưới 35, 10kV được thiết kế sử dụng các thiết bị theo tiêu chuẩn của Liên Xô cũ. Cấp điện áp 35kV vừa làm nhiệm vụ truyền tải điện thông qua các trạm trung gian 35/6 -10kV vừa đóng vai trò phân phối cho các phụ tải qua các trạm 35/0, 4kV. Từ năm 1994 Bộ Năng lượng ra quyết định không xây dựng mới các trạm trung gian 35/6-10kV thì lưới 35kV làm nhiệm vụ phân phối mạnh mẽ, nhất là các tỉnh miền núi: Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn La… đến nay lưới 35kV có khối lượng lớn nhất trong hệ thống lưới phân phối ở Miền Bắc với 18000km đường dây lưới điện 35kV phù hợp với các vùng có phụ tải bé nằm rải rác với bán kính cấp điện lớn (miền núi, vùng sâu vùng xa). Lưới 35kV chủ yếu dùng loại dây từ AC-35 đến AC- 150.
Với đặc điểm là bán kính cung cấp điện tương đối dài (110-120km). Nhiều đường dây 35kV là đường cung cấp điện mạch đơn nên độ an toàn cung cấp điện không cao. Mạng lưới 6kV tồn tại từ thời Pháp thuộc và phát triển trong những ngày đầu hình thành mạng điện ở Việt Nam, ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định (Cách đây 30 đến 40 năm). Ngoài ra, lưới 6kV còn nguyÔn v¨n h¶i - líp cao häc kü thuËt ®iÖn 2007-2009 7 phát triển tương đối mạnh ở Bắc Giang, Phú Thọ, Hà Tây, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An….
chủ yếu tập trung ở các thị xã thị trấn. Lưới điện 6kV hiện nay đã trở nên cũ nát, chắp vá không đủ khả năng truyền tải công suất tới các hộ tiêu thụ. Tỷ lệ tổn thất trên lưới cao, mức an toàn thấp. Đường dây 6kV có tiết diện từ AC-35 đến AC-120, bán kính điện lớn.
Có những nơi lên đến 15km (Hải Phòng, Vinh, Thái Nguyên…). Lưới 6kV ngày càng tỏ ra không phù hợp với sự gia tăng phụ tải nhất là ở các tỉnh thành phố lớn. Từ năm 1994, lưới 6kV hầu như không phát triển thêm. Đến nay lưới 6kV ở miền Bắc chỉ còn 2590km tổng chiều dài đường dây.
Tương lai lưới 6kV sẽ được dần xóa bỏ để cải tạo sang cấp điện áp 22kV. Lưới 10kV xuất hiện ở miền Bắc sau năm 1954. Hiện nay cùng với lưới 35kV lưới 10kV trở thành lưới phân phối địa phương chủ yếu của Miền Bắc với 10911km đường dây. Lưới 10kV phát triển rộng khắp các xã, huyện thành phố ở Miền Bắc tập trung chủ yếu ở miền đồng bằng Trung du.
Cũng như lưới 35kV lưới 10kV đã phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp và đời sống đồng bào nông thôn miền Bắc Việt Nam. Hiện tại lưới 10kV có đường dây phát triển tương đối dài, có nơi tới 25km, đường dây chắp vá, tiết diện nhỏ, chủ yếu AC-35, 50, 70 gây tổn thất công suất, tổn thất điện áp lớn. Nhiều nơi lưới lưới 10kV và 6kV vận hành thành tia. Liên kết các đường dây còn yếu, độ linh hoạt kém, vì vậy sự cố xảy ra thời gian mất điện kéo dài.
Từ 1995 lưới 10kV được hạn chế không phát triển nhiều. Mạng 6kV, 10kV được sử dụng cả hai dạng: Đường dây cáp ngầm và đường dây trên không. Trong đó hệ thống cáp ngầm chủ yếu được xây dựng trong các thành phố lớn, cả ba hệ thống lưới 6, 10, 35kV đều thuộc loại có trung tính nhưng không nối đất trực tiếp. Trạm biến áp tiêu thụ 35, 10, 6/0, 4kV ở miền Bắc chỉ sử dụng loại máy 3 pha với công suất 50, 100, 160, 250, 320, 400, 560, 630, 750, nguyÔn v¨n h¶i - líp cao häc kü thuËt ®iÖn 2007-2009 8 1000kVA.
Các tỉnh có lưới điện phát triển sớm ở miền Bắc hầu như đều sử dụng nhiều máy biến áp có công suất lớn: 320, 400, 560kVA. Các trạm công cộng ở thành phố lớn, thị trấn thường vận hành trong tình trạng tương đối đầy tải. Vào các giờ cao điểm hay xảy ra sự cố mất điện.