CHƯƠNG I: CƠ SỞ KỸ THUẬT TRUYỀN THÔNG Để có thể kết nối các thiết bị với nhau cần phải có phương thức truyền thông, đây là phần quan trọng trong hệ thống, nó góp phần kết nối các phần tử trong hệ thống lại với nhau. Đặc biệt là đối với Hệ thống điện, khối lượng thông tin cần trao đổi rất lớn và ngày càng được mở rộng, việc kết nối các thiết bị một mặt phải đảm bảo độ tin cậy của đường truyền, một mặt phải đáp ứng được tốc độ truyền tin. Để có được cái nhìn tổng quan về phương thức truyền thông ta tìm hiểu các phần sau: 1. Chế độ truyền tải thông tin Chế độ truyền tải được hiểu là phương thức các bit dữ liệu được chuyển giữa các đối tượng truyền thông gồm: - Truyền song song hay nối tiếp.
- Truyền đồng bộ hay không đồng bộ - Truyền một chiều (simplex), hai chiều toàn phần (duplex, full- duplex) hay hai chiều gián đoạn (half- duplex). - Truyền tải dải cơ sở, truyền tải dải mang và truyền tải dải rộng. Truyền bit song song và truyền bit nối tiếp Truyền bit song song: Phương pháp truyền bit song song được dùng phổ biến trong các bus nội bộ của máy tính. Tốc độ truyền tải phụ thuộc vào số kênh dẫn hay chính là độ rộng của một bus song song.
Việc nhiều bit được truyền đi đồng thời gây trở ngại lớn khi khoảng cách giữa các đối tác truyền thông tăng lên vì khó đồng bộ giữa bên thu và bên phát, khối lượng dây dẫn sử dụng lớn. Chính vì vậy phạm vi ứng dụng của phương pháp truyền này chỉ hạn chế ở khoảng cách nhỏ, có yêu cầu cao về thời gian và tốc độ truyền. Truyền bit nối tiếp: Đào Quang Minh 4 Hệ thống miniSCADA áp dụng cho các trạm biến áp 110kV miền Bắc Với phương pháp này, từng bit được chuyển đi một cách tuần tự qua một đường truyền duy nhất. Tốc độ bit vì thế bị hạn chế nhưng cách thực hiện lại đơn giản, độ tin cậy của dữ liệu cao.
Tất cả các mạng truyền thông công nghiệp đều sử dụng phương pháp truyền này. Truyền đồng bộ và không đồng bộ Sự phân biệt giữa chế độ truyền đồng bộ và không đồng bộ chỉ liên quan tới phương thức truyền bit song song. Trong chế độ này các đối tác truyền thông làm việc theo cùng một nhịp, tức là với cùng tần số và độ lệch pha cố định. Truyền một chiều, hai chiều toàn phần và gián đoạn 10110101 Simplex Bộ phát Bộ thu 10110101 Half-duplex Bộ thu phát Bộ thu phát 10110101 Duplex Bộ thu phát Bộ thu phát Hình 1.1: Các chế độ truyền tin Truyền một chiều (Simplex) Trong chế độ truyền một chiều, thông tin chỉ được chuyển đi theo một chiều, một trạm chỉ có thể đóng vai trò hoặc bên phát (transmitter) hoặc bên nhận thông tin (receiver) trong suốt quá trình giao tiếp.
Truyền hai chiều gián đoạn (Half-duplex) Chế độ truyền 2 chiều gián đoạn cho phép mỗi trạm có thể tham gia gửi hoặc nhận thông tin nhưng không cùng một lúc. Nhờ vậy thông tin được trao đổi theo cả hai chiều luân phiên trên cùng một đường truyền vật lý. Một ưu điểm của chế độ Đào Quang Minh 5 Hệ thống miniSCADA áp dụng cho các trạm biến áp 110kV miền Bắc này là không đòi hỏi cấu hình hệ thống phức tạp lắm, trong khi có thể đạt được tốc độ truyền tương đối cao. Truyền hai chiều toàn phần (Duplex) Với chế độ truyền hai chiều toàn phần, mỗi trạm đều có thể gửi hoặc nhận thông tin cùng một lúc.
Thực chất chế độ này chỉ khác với chế độ truyền hai chiều gián đoạn ở chỗ phải sử dụng hai đường truyền riêng biệt cho thu và phát, tức là khác ở cấu hình hệ thống truyền thông. Truyền tải dải cơ sở, dải mang và dải rộng Truyền tải dải cơ sở. Một tín hiệu mang một nguồn thông tin có thể biểu diễn bằng tổng của nhiều dao động có tần số khác nhau nằm trong một phạm vi hẹp được gọi là dải tần cơ sở hay dải hẹp. Tín hiệu được truyền đi cũng chính là tín hiệu được tạo ra sau khi mã hoá bit nên có tần số cố định hoặc nằm trong một khoảng hẹp nào đó, tuỳ thuộc vào phương pháp mã hoá bit.
Đường truyền chỉ có thể mang một kênh thông tin duy nhất, mọi thành viên trong mạng phải phân chia thời gian để sử dụng đường truyền. Tốc độ truyền tải vì thế tuy có bị hạn chế nhưng phương pháp này dễ thực hiện và tin cậy, được dùng chủ yếu trong các hệ thống mạng truyền thông công nghiệp. Truyền tải dải mang. Trong một số trường hợp, dải tần cơ sở không tương thích trong môi trường làm việc, người ta sử dụng một tín hiệu khác - gọi là tín hiệu mang có tần số nằm trong một dải tần thích hợp - dải mang.
Dải tần này thường lớn hơn nhiều so với tần số nhịp. Dữ liệu cần truyền tải sẽ dùng để điều chế tần số, biên độ hoặc pha của tín hiệu mang. Bên nhận sẽ thực hiện quá trình giải điều chế để hồi phục thông tin nguồn. Khác với truyền tải dải rộng nêu dưới đây, phương thức truyền tải dải mang chỉ áp dụng cho một kênh truyền duy nhất, giống như truyền tải dải cơ sở.
Truyền tải dải rộng. Đào Quang Minh 6 Hệ thống miniSCADA áp dụng cho các trạm biến áp 110kV miền Bắc Sau khi nhiều nguồn thông tin khác nhau đã được mã hoá bit, mỗi tín hiệu được tạo ra sẽ dùng để điều biến một tín hiệu khác, thường có tần số lớn hơn nhiều gọi là tín hiệu mang. Các tín hiệu mang đã được điều biến có tần số khác nhau nên có thể pha trộn, xếp chồng thành một tín hiệu duy nhất có phổ tần trải rộng. Tín hiệu này cuối cùng lại được dùng để điều biến một tín hiệu mang khác.
Tín hiệu thu được từ khâu này mới được truyền đi. Phía bên nhận sẽ thực hiện việc giải điều biến và phân kênh hồi phục các tín hiệu mang các nguồn thông tin khác nhau. Phương thức truyền tải dải rộng và kỹ thuật dồn kênh được dùng rộng rãi trong các mạng viễn thông bởi tốc độ cao và khả năng truyền song song nhiều nguồn thông tin. Tuy nhiên, vì đặc điểm phạm vi mạng, lý do giá thành thực hiện và tính năng thời gian, truyền tải băng rộng cũng như kỹ thuật dồn kênh hầu như không đóng vai trò gì trong các hệ thống truyền thông công nghiệp.
Đường truyền vật lý. Mạng máy tính - mạng công nghiệp là phương pháp tổ chức một tập hợp các máy tính, các thiết bị tự động hoá được nối với nhau bởi các đường truyền vật lý theo một cấu trúc nào đó. Đường truyền vật lý dùng để chuyển các tín hiệu điện giữa các máy tính, giữa các thiết bị tự động hoá hay giữa các thiết bị trong mạng với nhau. Các tín hiệu điện đó biểu diễn các giá trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân (on-off).
Tất cả các tín hiệu được truyền đều thuộc một dạng sóng điện từ nào đó và mỗi loại sóng điện từ có những thiết bị phương tiện truyền dẫn riêng. Khi xem xét lựa chọn đường truyền vật lý cần chú ý tới các đặc trưng cơ bản: dải thông (band width), độ suy giảm và nhiễu. Dải thông của một đường truyền chính là phạm vi tần số mà nó có thể đáp ứng được. Đối với cáp truyền dải thông của nó phụ thuộc vào độ dài.
Cáp ngắn nói chung có dải thông lớn hơn so với cáp dài. Bởi vậy khi thiết kế cáp cho mạng phải Đào Quang Minh 7 Hệ thống miniSCADA áp dụng cho các trạm biến áp 110kV miền Bắc chỉ rõ độ dài chạy cáp tối đa, vì ngoài giới hạn đó chất lượng truyền tín hiệu không còn được đảm bảo. Độ suy giảm là độ đo sự yếu đi của tín hiệu trên đường truyền. Nó cũng phụ thuộc vào độ dài cáp.
Nhiễu: gây bởi điện từ bên ngoài làm ảnh hưởng đến tín hiệu trên đường truyền. Cấu trúc của mạng (Topology): Kiến trúc mạng (Network Architecture) thể hiện cách các máy tính, các thiết bị tự động nối với nhau ra sao và tập hợp các quy tắc, các quy ước mà tất cả các thực thể tham gia truyền thông trên mạng phải tuân theo để đảm bảo cho mạng hoạt động tốt. Cách nối này gọi là cấu trúc (topology) của mạng (hay là tôpô của mạng). Có hai kiểu nối mạng chủ yếu là điểm - điểm (point-to-point) và quảng bá (point-to-multipoint): - Nếu một mạng chỉ gồm hai nút được nối trực tiếp với nhau thì được gọi là mạng có cấu trúc điểm - điểm (point-to-point structure).
Theo kiểu điểm - điểm thì các đường truyền nối với nhau và mỗi nút đều có trách nhiệm lưu trữ tạm thời sau đó chuyển tiếp dữ liệu đi cho tới đích. - Nếu một mạng gồm nhiều nút, liên kết với nhau theo kiểu quảng bá (Cấu trúc kiểu đường thẳng, vòng, hình sao, hình cây) thì tất cả các nút có chung một đường truyền vật lý. Dữ liệu được gửi đi từ một nút nào đó sẽ có thể được tiếp nhận bởi tất cả các nút còn lại nên chỉ cần chỉ ra địa chỉ đích của dữ liệu để mỗi nút căn cứ vào đó để kiểm tra xem dữ liệu có phải dành cho mình không. Đào Quang Minh 8 Hệ thống miniSCADA áp dụng cho các trạm biến áp 110kV miền Bắc Hình 1.2: Cấu trúc point-to-multipoint tại Trung tâm điều độ Hiện nay, các hệ thống SCADA/EMS của Trung tâm Điều độ HTĐ Quốc gia (A0), HTĐ miền Bắc (A1), HTĐ miền Nam (A2) và HTĐ miền Trung (A3) đang thực hiện cấu trúc (point-to-multipoint) nếu xem xét kết nối giữa máy tính đầu cuối của các Trung tâm điều độ với các RTU tại các Trạm T500, T220,T110, T66 v.
Tương ứng với các dạng liên kết, có các dạng cấu trúc mạng cơ bản sau: 1. Cấu trúc bus Cấu trúc kiểu đường thẳng là kiểu cấu trúc đơn giản nhất, cấu trúc này còn có tên là cấu trúc kiểu đường dẫn (bus structure), mặc dù không phải đường dẫn nào cũng là cấu trúc đường thẳng. Tất cả các thành viên trong mạng đều phải có một điểm ghép nối vào mạng. Nó có thể nối thông qua một đường dẫn ngắn để đến điểm dẫn chính.
Trong mạng này, nguyên tắc truyền thông được thực hiện như sau: ở tại một thời điểm nhất định chỉ có một thành viên trong mạng được truyền dữ liệu, còn các thành viên khác chỉ có quyền nhận, tín hiệu được truyền cả hai chiều của bus. Đối với các bus một chiều thì tín hiệu chỉ đi về một phía. Lúc đó các Terminator (thiết bị đầu cuối) phải được thiết kế sao cho các tín hiệu phải được dội lại trên bus để có thể đến được các thành viên trong mạng.