Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu; - Chương 2: Lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại và pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại; - Chương 3: Thực trạng pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay; - Chương 4: Định hướng và đề xuất hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại. 9 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại Một là, các nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ của ngân hàng thương mại Khái niệm nợ nói chung và nợ của NHTM nói riêng được một số công trình tại Việt Nam nghiên cứu cụ thể như sau: Tại luận án tiến sĩ về “Pháp luật về hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam” của tác giả Khúc Thị Phương Nhung cho rằng khái niệm nợ (khoản nợ) có thể được biểu hiện bằng một khoản tiền nhất định hoặc dưới dạng khác (dịch vụ phải cung ứng, công việc phải thực hiện) mà theo đó nghĩa vụ này được phát sinh trên cơ sở hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật và bên nợ có nghĩa vụ phải thực hiện theo yêu cầu của bên có quyền.
Ngoài ra, công trình còn đưa ra khái niệm nợ của TCTD, theo đó, nợ của TCTD là một khoản tiền bao gồm khoản gốc, lãi, phí và/hoặc chi phí khác có liên quan mà khách hàng (tổ chức, cá nhân) có nghĩa vụ phải trả cho TCTD tại một thời điểm nhất định theo thỏa thuận được xác lập trong hợp đồng giữa TCTD và khách hàng [[31], tr. Theo luận án tiến sĩ kinh tế về “Phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thu Hương, cho rằng nợ là nghĩa vụ phải trả bằng tiền hoặc tài sản của cá nhân hoặc tổ chức này (gọi là khách nợ) đối với cá nhân hoặc tổ chức khác (chủ nợ). Nợ có thể có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm [22]. Luận văn thạc sĩ luật học về “Hợp đồng mua bán nợ theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Lê Trọng Dũng cũng đề cập đến khái niệm nợ, theo đó, nợ là nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức phải trả tài sản cho cá nhân, tổ chức khác phát sinh từ hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật [[18], tr.
Theo định nghĩa này, nợ được 10 luan an hiểu là một mối quan hệ pháp lý của một bên phải hoàn trả cho một bên khác, mà đối tượng được giới hạn trong phạm vi tài sản, phát sinh do thoả thuận của các bên hoặc do sự điều tiết của pháp luật trong những trường hợp cụ thể. Theo bài viết “Nghĩa vụ dân sự và quan niệm nghĩa vụ dân sự ở Việt Nam” của Phó giáo sư Tiến s Ngô Huy Cương, các định nghĩa nợ thông thường chỉ đứng dưới góc nhìn của bên có nghĩa vụ phải thực hiện vì lợi ích của người khác mà chưa xem xét góc độ từ phía người có quyền, theo đó một bên có quyền yêu cầu, còn bên kia phải thực hiện hành vi nhất định theo yêu cầu đó, có nghĩa là chỉ mối quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định. Khi nói hợp đồng là căn cứ phát sinh ra nghĩa vụ, thì có nghĩa là hợp đồng làm phát sinh ra quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định [17]. Do vậy, cần lưu ý trong quan hệ nghĩa vụ luôn có hai chủ thể trái ngược nhau: một bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, bên còn lại phải thực hiện yêu cầu của bên kia để quan tâm đầy đủ các khía cạnh.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về nợ nói chung của NHTM, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về nợ xấu nói chung và nợ xấu của NHTM, cụ thể như sau: Theo Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương về “Quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam”, tác giả cho rằng nếu đứng dưới góc nhìn của các NHTM thì nợ xấu có thể hiểu là những khoản nợ cho vay không có khả năng sinh lời hay những khoản vay không còn hoạt động, liên quan tới tính hiệu quả của khu vực ngân hàng. Những khoản vay trở nên không sinh lời khi người vay dừng việc thanh toán và khoản cho vay này bắt đầu bị vỡ nợ. Cụ thể, theo quan điểm của tác giả, nợ xấu phải được tiếp cận dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng. Có nghĩa là một khoản vay trong hạn, hoặc thậm chí mới cho vay, nhưng có dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng trả nợ của khoản vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thể coi là một khoản nợ xấu [34].
Việc nghiên cứu khái niệm nợ xấu cũng được đề ra trong nhiều công trình nghiên cứu, bài viết khác. Như trong luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tú về “Pháp luật về mua bán nợ xấu của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, tác giả đã đưa ra khái niệm về nợ xấu, hay còn gọi là nợ khó đòi hoặc các khoản vay có vấn đề, là 11 luan an khái niệm được sử dụng phổ biến nhằm ám chỉ các khoản nợ bị suy giảm khả năng thu hồi hoặc mất khả năng thu hồi [43]. Khái niệm này cho thấy về bản chất nợ xấu là khoản nợ mà người vay không trả nợ đến hạn bao gồm cả trường hợp không trả nợ và mất khả năng trả nợ. Hay quan điểm của Tiến sĩ Tôn Thanh Tâm trong bài viết “Bàn về xử lý nợ xấu” chỉ ra rằng, dấu hiệu nhận biết nợ xấu là nếu bên vay trả nợ không sòng phẳng, không đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thì nó trở thành nợ xấu [36].
“Pháp luật về hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam” của tác giả Khúc Thị Phương Nhung đã đề cập một số vấn đề về đặc điểm nợ và phân loại nợ của TCTD trong đó bao gồm NHTM thông qua góc độ phân tích đặc điểm nợ và phân loại nợ của TCTD nói chung. Qua đó, thể hiện nợ mang một số đặc điểm như phát sinh trên cơ sở hợp đồng giữa TCTD và khách hàng, thường đi kèm với sự bảo đảm khả năng thanh toán thông qua các biện pháp bảo đảm tiền vay, thường được các bên xác định trước thời điểm trả nợ, bao gồm số tiền vay gốc, lãi, phí và chi phí khác nếu có, và là kết quả của quá trình mà TCTD thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của chính mình thông qua hợp đồng tín dụng. Đồng thời, công trình này cũng chỉ ra được phương pháp phân loại nợ định lượng và định tính, và khoản nợ xấu (nợ nhóm 3, 4, 5) có tỷ lệ trích lập dự phòng cao hơn các nhóm nợ khác [31]. Luân án tiến s luật học “Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam” của Hoàng văn Thành đã đưa ra khái niệm “nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD là một loại quyền tài sản hình thành khi nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đối với TCTD không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ sau một khoảng thời gian luật định hoặc được TCTD nhận định khách hàng rất có thể không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ” [[37], tr.446] Tại một số công trình nghiên cứu khác như “Pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam” của tác giả Trà Đình Thứ [41], “Hợp đồng mua bán nợ theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Lê Trọng Dũng [18], “Nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định Việt Nam và thông 12 luan an lệ quốc tế” của tác giả Đinh Thị Thanh Vân [46], “Hợp đồng mua bán nợ của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Lê [24], cũng chỉ ra được các phương pháp phân loại nợ phổ biến tại Việt Nam theo phương pháp định lượng và định tính.
Ngoài những công trình nghiên cứu trong nước kể trên, ở nước ngoài cũng có những công trình nghiên cứu về khái niệm nợ, nợ xấu, phân loại nợ của NHTM. Cụ thể là: Trong Fundamentals of contract law (Đại cương về pháp luật hợp đồng) của Corinne Renault Brahinsky [[59], tr. 11], tác giả khẳng định bản chất pháp lý của nợ là một nghĩa vụ tài sản của bên nợ đối với chủ nợ. Trong bài viết Régime juridique du transfert de créances (dịch là: Chế độ pháp lý về chuyển giao quyền đòi nợ) của Andoh Ludovie [99], tác giả cũng cho rằng, nợ với bản chất là nghĩa vụ của chủ thể này với chủ thể khác.
Đồng thời, tác giả cũng khẳng định, thực chất chuyển giao quyền đòi nợ là quá trình chuyển giao quyền tài sản của chủ thể có quyền cho một bên thứ ba theo thỏa thuận. Tiếp đến, có một số công trình khoa học khác cũng đã đề cập đến khái niệm nợ xấu và cách phân loại nợ như The Treatment of Nonperforming Loans (dịch là: Xử lý các khoản vay không hiệu quả) của Eighteenth Meeting of the IMF Committee on Balance of Payments Statistics Washington (June 27–July 1 (2005) [60]; International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards (Tập hợp các tiêu chuẩn quốc tế về vốn và đo lường vốn) (A Revised Framework) của Basel Committee on Banking Supervision [62]. Trong các công trình nghiên cứu này, nợ xấu được xác định dựa trên cả hai dấu hiệu định lượng (các khoản nợ đã quá hạn từ 90 ngày trở lên) và định tính (dấu hiệu khách hàng không trả được nợ). Hai là, các công trình nghiên cứu về mua bán nợ của ngân hàng thương mại Về khái niệm, đặc điểm mua bán nợ của NHTM hiện nay có một số công trình tiêu biểu tại Việt Nam nghiên cứu đến vấn đề này có thể kể đến như: Công trình “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới” của tác giả Lê Thị Thu Thủy [40] đã đưa ra khái niệm về mua bán nợ.
Qua đó, có thể hiểu mua 13 luan an bán nợ là hoạt động mà bên bán chuyển giao quyền đòi nợ cho bên mua nợ để sớm thu hồi vốn của mình, bản chất của mua bán nợ là chuyển giao quyền sở hữu đối với khoản nợ từ bên bán sáng bên mua nợ.