Luận án tiến sĩ quản trị kinh doanh mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại của khách du lịch tại việt nam trường hợp nghiên cứu tại thành phố hồ chí minh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro, hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại của khách du lịch tại TP.HCM, Việt Nam.

Trường đại học

Trường Đại Học Lạc Hồng

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

316
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Bối cảnh nghiên cứu

1.2. Bối cảnh thực tiễn

1.3. Bối cảnh lý thuyết

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

1.5. Mục tiêu nghiên cứu

1.5.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

1.5.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

1.6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.6.1. Đối tượng nghiên cứu

1.6.2. Phạm vi nghiên cứu

1.7. Phương pháp nghiên cứu

1.8. Tổng quan các nghiên cứu trước

1.8.1. Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan

1.8.2. Nhận xét và khoảng trống nghiên cứu được phát hiện

1.9. Kết cấu của luận án

1.10. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Các lý thuyết liên quan

2.1.1. Các lý thuyết hỗ trợ xây dựng mối quan hệ giữa các nhân tố với ý định quay lại

2.1.2. Các lý thuyết hỗ trợ xây dựng vai trò điều tiết của văn hóa

2.2. Các khái niệm liên quan

2.2.1. Khách du lịch

2.2.2. Ý định quay lại

2.2.3. Nhận thức rủi ro

2.2.4. Hạnh phúc chủ quan

2.2.5. Công bằng dịch vụ

2.3. Mối quan hệ giữa các nhân tố

2.3.1. Mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro và ý định quay lại

2.3.2. Mối quan hệ giữa hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại

2.3.3. Mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro và hạnh phúc chủ quan

2.3.4. Mối quan hệ giữa công bằng dịch vụ và hạnh phúc chủ quan

2.3.5. Mối quan hệ công bằng dịch vụ và nhận thức rủi ro

2.3.6. Vai trò điều tiết của Văn hóa lên các mối quan hệ với ý định quay lại

2.4. Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất

2.4.1. Giả thuyết nghiên cứu

2.4.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.5. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.1.1. Lựa chọn phương pháp nghiên cứu

3.1.2. Quy trình nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu định tính

3.2.1. Các phương pháp được sử dụng

3.2.2. Phương pháp chọn mẫu

3.2.3. Thực hiên nghiên cứu định tính

3.2.4. Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát với cỡ mẫu nhỏ

3.2.5. Kết quả nghiên cứu định tính

3.3. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.3.1. Phương pháp chọn mẫu

3.3.2. Thu thập dữ liệu nghiên cứu sơ bộ

3.3.3. Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát chính thức

3.3.4. Kết quả nghiên cứu sơ bộ

3.4. Nghiên cứu định lượng chính thức

3.4.1. Thiết kế mẫu

3.4.2. Thu thập dữ liệu nghiên cứu

3.4.3. Công cụ xử lý dữ liệu

3.4.4. Phương pháp phân tích dữ liệu dự kiến

3.5. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

4.2. Kiểm định thang đo chính thức

4.3. Phân tích nhân tố khám phá

4.4. Phân tích nhân tố khẳng đinh

4.4.1. Kiểm định tính đơn hướng (undimensionality)

4.4.2. Kiểm định độ tin cậy, độ hội tụ và giá trị phân biệt

4.5. Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu

4.6. Kiểm định vai trò điều tiết của biến văn hóa

4.6.1. Vai trò điều tiết của văn hóa ở cấp độ toàn mô hình

4.6.2. Vai trò điều tiết của văn hóa đối với mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro và ý định quay lại

4.6.3. Vai trò điều tiết của văn hóa đối với mối quan hệ giữa hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại

4.6.4. Vai trò điều tiết của văn hóa đối với mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro và hạnh phúc chủ quan

4.7. Kiểm định khác biệt giá trị trung bình ý định quay lại của các nhóm

4.7.1. Khác biệt trung bình ý định quay lại giữa các nhóm khách phân loại theo văn hóa

4.7.2. Khác biệt trung bình ý định quay lại giữa các nhóm khách

4.8. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.8.1. Thảo luận về mối quan hệ giữa công bằng dịch vụ, nhận thức rủi ro, hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại

4.8.2. Thảo luận về vai trò điều tiết của văn hóa đối mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro, hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại của khách du lịch

4.9. TÓM TẮT CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Hàm ý quản trị

5.1.1. Gia tăng ý định quay lại của các nhóm du khách khác nhau

5.1.2. Gia tăng ý định quay lại của du khách thông qua gia tăng hạnh phúc chủ quan

5.1.3. Gia tăng ý định quay lại của du khách thông qua giảm thiểu nhận thức rủi ro

5.1.4. Cải thiện cảm nhận công bằng dịch vụ để gia tăng ý định quay lại thông qua nhận thức rủi ro và hạnh phúc chủ quan

5.1.5. Hàm ý dựa trên sự khác biệt về văn hóa

5.2. Đóng góp của nghiên cứu

5.2.1. Đóng góp về mặt khoa học

5.2.2. Đóng góp về mặt thực tiễn

5.3. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BẢNG TỔNG HỢP CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN TỐ

PHỤ LỤC 2: BẢNG TỔNG HỢP THANG ĐO GỐC VÀ THANG ĐO VIỆT HÓA

PHỤ LỤC 3A: KỊCH BẢN PHỎNG VẤN LẦN 1

PHỤ LỤC 3B: TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHỎNG VẤN LẦN 1

PHỤ LỤC 4A: KỊCH BẢN PHỎNG VẤN LẦN 2

PHỤ LỤC 4B: TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHỎNG VẤN LẦN 2 – NHÓM 1

PHỤ LỤC 4C: TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHỎNG VẤN LẦN 2 – NHÓM 2

PHỤ LỤC 5A: KỊCH BẢN PHỎNG VẤN LẦN 3

PHỤ LỤC 5B: TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHỎNG VẤN LẦN 3

PHỤ LỤC 6A: BẢNG KHẢO SÁT SƠ BỘ DÀNH CHO KHÁCH NỘI ĐỊA

PHỤ LỤC 6B: BẢNG KHẢO SÁT SƠ BỘ DÀNH CHO KHÁCH QUỐC TẾ

PHỤ LỤC 7: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG SƠ BỘ

PHỤ LỤC 8: THỐNG KÊ CÁC ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 9A: BẢNG KHẢO CHÍNH THỨC DÀNH CHO KHÁCH NỘI ĐỊA

PHỤ LỤC 9A: BẢNG KHẢO SÁT CHÍNH THỨC DÀNH CHO KHÁCH QUỐC TẾ

PHỤ LỤC 10: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG CHÍNH THỨC

PHỤ LỤC 11A: KỊCH BẢN PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA LẦN 3

PHỤ LỤC 11B: TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHỎNG VẤN LẦN 3

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro, hạnh phúc chủ quaný định quay lại của khách du lịch tại TP.HCM. Bối cảnh thực tiễn cho thấy ngành du lịch Việt Nam đang phát triển mạnh, nhưng tỷ lệ khách quay lại thấp, đặc biệt là khách quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu sâu hơn để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay lại của khách du lịch.

1.1 Bối cảnh thực tiễn

Ngành du lịch Việt Nam đóng góp đáng kể vào GDP, nhưng tỷ lệ khách quay lại thấp, chỉ khoảng 10-40%. Các vấn đề như rủi ro trong du lịch, sự hài lòngcảm xúc du lịch đang là thách thức lớn. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu cách các yếu tố này tác động đến ý định quay lại của khách du lịch.

1.2 Bối cảnh lý thuyết

Theo Abubakar và ctg (2017), ý định quay lại được hình thành khi khách du lịch có trải nghiệm tích cực. Nghiên cứu này kế thừa các lý thuyết về tâm lý khách hàngđộng lực du lịch để xây dựng mô hình nghiên cứu.

II. Mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro và ý định quay lại

Nhận thức rủi ro là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định quay lại của khách du lịch. Nghiên cứu chỉ ra rằng khách du lịch có xu hướng tránh các điểm đến mà họ cảm thấy có rủi ro cao, đặc biệt là về an ninh, sức khỏe và tài chính.

2.1 Tác động của rủi ro trong du lịch

Các rủi ro như ngộ độc thực phẩm, lừa đảoan ninh làm giảm sự hài lòngý định quay lại của khách du lịch. Nghiên cứu này phân tích cách các rủi ro này ảnh hưởng đến quyết định của khách.

2.2 Giảm thiểu nhận thức rủi ro

Các doanh nghiệp du lịch cần có biện pháp giảm thiểu nhận thức rủi ro thông qua cải thiện dịch vụ, tăng cường an ninh và truyền thông hiệu quả.

III. Hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại

Hạnh phúc chủ quan là yếu tố then chốt trong việc hình thành ý định quay lại của khách du lịch. Nghiên cứu chỉ ra rằng khách du lịch có xu hướng quay lại những điểm đến mang lại cảm xúc tích cực và sự hài lòng cao.

3.1 Cảm xúc du lịch và hạnh phúc chủ quan

Các cảm xúc du lịch như sự vui vẻ, thỏa mãn và hài lòng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hạnh phúc chủ quan. Nghiên cứu này phân tích cách các cảm xúc này ảnh hưởng đến ý định quay lại.

3.2 Tăng cường hạnh phúc chủ quan

Các doanh nghiệp du lịch cần tập trung vào việc tạo ra các trải nghiệm tích cực, cải thiện dịch vụ và tương tác với khách hàng để tăng hạnh phúc chủ quan.

IV. Vai trò của văn hóa trong mối quan hệ giữa các yếu tố

Văn hóa đóng vai trò điều tiết trong mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro, hạnh phúc chủ quaný định quay lại. Nghiên cứu này phân tích cách các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến quyết định của khách du lịch.

4.1 Văn hóa và nhận thức rủi ro

Các nhóm văn hóa khác nhau có nhận thức rủi ro khác nhau. Nghiên cứu này chỉ ra cách văn hóa ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận rủi ro của khách du lịch.

4.2 Văn hóa và hạnh phúc chủ quan

Các yếu tố văn hóa như chủ nghĩa cá nhânchủ nghĩa tập thể ảnh hưởng đến hạnh phúc chủ quan của khách du lịch. Nghiên cứu này phân tích cách các yếu tố này tác động đến ý định quay lại.

V. Kết luận và hàm ý quản trị

Nghiên cứu này đã chỉ ra mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro, hạnh phúc chủ quaný định quay lại của khách du lịch tại TP.HCM. Các hàm ý quản trị bao gồm việc giảm thiểu nhận thức rủi ro, tăng cường hạnh phúc chủ quan và xem xét các yếu tố văn hóa trong chiến lược thu hút khách du lịch.

5.1 Gia tăng ý định quay lại

Các doanh nghiệp cần tập trung vào việc tạo ra các trải nghiệm tích cực, cải thiện dịch vụ và giảm thiểu rủi ro để tăng ý định quay lại của khách du lịch.

5.2 Hàm ý dựa trên văn hóa

Các chiến lược quản trị cần xem xét các yếu tố văn hóa để phù hợp với tâm lý khách hàng và tăng hiệu quả thu hút khách du lịch.

13/02/2025
Luận án tiến sĩ quản trị kinh doanh mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại của khách du lịch tại việt nam trường hợp nghiên cứu tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 cũng nêu ra vấn đề, mục tiêu nghiên cứu cũng như các câu hỏi nghiên cứu cần được trả lời. Đồng thời, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như tính mới và những đóng góp của nghiên cứu về lý thuyết, thực tiễn cũng như cấu trúc luận án cũng được trình bày.1 Bối cảnh nghiên cứu 1.1 Bối cảnh thực tiễn Ngành du lịch Việt Nam chính thức bắt đầu từ ngày 09/7/1960, mặc dù muộn hơn so với các nước khác trên thế giới nhưng đã thu hút ngày càng nhiều khách quốc tế trong những năm gần đây, đóng vai trò hết sức quan trọng. Theo tinh thần Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành ngày 16/01/2017 khẳng định DL sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong công cuộc phát triển Đất nước, là động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác.1: Tổng thu từ khách du lịch trong giai đoạn 2009 - 2019 (Nguồn: Tổng cục Du lịch Việt Nam) 2 Ngành đã mang lại thu nhập GDP lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới. Tỷ lệ đóng góp trực tiếp trong năm 2015 đạt 6,3%; năm 2016: 6,9%; năm 2017: 7,9%; năm 2018: 8,3% và năm 2019: 9,2%.

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2019, tổng thu của ngành đạt 726.000 tỉ đồng và ước tính đón 18 triệu lượt khách quốc tế và 85 triệu lượt khách du lịch nội địa. Trong các các điểm đến nội địa, Tp. HCM được đánh giá một trong những trọng điểm DL của cả Nước. Bằng chứng, Du lịch Thành phố đã phát triển khá toàn diện cả về số lượng lẫn chất lượng với tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm 15%- 20%, đóng góp bình quân từ 55% - 60% lượng khách quốc tế đến Việt Nam và chiếm gần 40% doanh thu du lịch cả Nước.

Qua nhận định của nhiều tổ chức DL uy tín, thành phố nằm trong top 5 điểm đến hàng đầu khu vực ASEAN, top những điểm đến hấp dẫn của DL thế giới.2: Các điểm đến phổ biến của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam Nhiều năm qua, DL Tp. HCM luôn lập kỷ lục về tăng trưởng khách du lịch trong và ngoài nước. Nhưng đằng sau những con số đẹp này, DL Tp. HCM nói riêng và ngành DL cả Nước nói chung vẫn đang loay hoay tìm điểm nhấn để khách lưu trú dài ngày hơn, tỷ lệ khách quay trở lại cao hơn và tăng doanh thu từ ngành công nghiệp không khói này.

Hiện, tỷ lệ khách du lịch quay trở lại thấp, chỉ từ 10-40%. Theo báo cáo của Tổng cục Du lịch Việt Nam tại hội thảo năm 2017 về chuyên 3 nghiệp hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm DL, có 80% khách du lịch không quay trở lại. Đồng thời, theo Hiệp hội Du lịch Quốc tế cũng thống kê, cứ 10 khách quốc tế mới có 1 người muốn quay trở lại lần thứ hai. Trích dẫn nguồn điều tra khách du lịch của Dự án EU (là dự án huy động chuyên gia trong nước và quốc tế thực hiện việc điều tra khách du lịch tại 5 điểm đến) thì chỉ có 6% khách quốc tế quay lại lần 2, lần 3 là 2% và từ 4 lần trở lên là 3,2% trong năm 2013.

Những con số này đã khẳng định tỷ lệ khách du lịch quay lại từ trước đến nay vẫn luôn là vấn đề còn bị bỏ ngỏ và chưa có hướng giải quyết triệt để. Do vậy, cần nhiều thêm các nghiên cứu chuyên sâu về tình hình quay trở lại của du khách trong và ngoài ước, đồng thời, cũng cần đánh giá ý định quay lại điểm đến của họ nhằm tìm ra phương hướng giúp gia tăng hành vi quay trở lại. Theo báo cáo của Sở Du lịch Thành phố, trong 9 tháng năm 2019, lực lượng trật tự DL Tp. HCM đã tiếp nhận và giải quyết 3.661 vụ taxi, xích lô, hàng rong, ăn xin chèo kéo, đeo bám du khách, dù giảm 3.173 vụ so với cùng kỳ năm 2018, nhưng mức độ ngày càng tăng.

Tiêu điểm, vào đầu tháng 7 năm 2019, Báo Pháp Luật đưa tin một tài xế ô tô chạy dịch vụ taxi công nghệ ở Tp. HCM đã thỏa thuận giá chặng đi với một du khách quốc tế vừa đến Tp. Tuy nhiên, khi đến nơi thì tài xế đã lấy của khách 800. Sang đầu tháng 8, vụ việc ông cụ Oki Toshiyuki (83 tuổi, du khách Nhật Bản) đã phải chi trả 2,9 triệu đồng cho một cuốc xích lô 5 phút dạo quanh Tp.

Nạn chặt chém, lừa đảo khách du lịch hiện nay không có xu hướng giảm mà chiêu trò kẻ xấu khá đa dạng và tinh vi. Bên cạnh đó, Trong cuộc khảo sát vào năm 2017, từ 1.004 du khách Australia do Công ty dược phẩm Sanofi thực hiện cho thấy 40% khách du lịch thừa nhận họ từng bị ốm đau khi đi DL tại Việt Nam. Hầu hết nguyên nhân chính là do gặp các vấn đề như ngộ độc thực phẩm hay bị côn trùng cắn. Đấy vẫn luôn là những vấn đề phức tạp trong DL, khiến các du khách lo sợ và e ngại làm sụt giảm hoặc triệt tiêu mong muốn quay trở lại điểm đến.

Vậy nên, sự lo sợ các rủi ro hay mức độ chấp nhận rủi ro của khách du lịch cũng là vấn đề cần phải nghiên cứu sâu. Nếu chỉ xem xét các lý do khiến du khách không quay trở lại mà phủ nhận các yếu tố làm số lượng khách du lịch vẫn tăng qua các năm, thậm chí vượt kế hoạch thì 4 thật là thiếu sót. Việc truyền thông và quảng bá DL đã kích thích sự tò mò và mong muốn trải nghiệm đủ lớn để khách du lịch thực hiện chuyến đi lần đầu. Tuy nhiên, trong suốt quá trình thực hiện chuyến đi, các du khách phải thực sự cảm thấy hạnh phúc và đủ thỏa mãn mới có thể nảy sinh ý định quay lại lần tiếp theo.

Theo một chia sẻ của du khách được đăng trên báo Du lịch (baodulich.vn), Ông Keiko Santelmann đến từ Norwegain (Na Uy) “Tôi đã đến Việt Nam 5 lần, hầu như tất cả khách du lịch có cảm nhận chung như tôi, về một đất nước rất xinh đẹp, con người ở đây rất thân thiện và có rất nhiều địa điểm DL đẹp và đặc biệt là những món ăn rất ngon”. Thông thường, các du khách quay lại nhiều lần đều có những phản hồi có xu hướng hài lòng với điểm đến, thỏa mãn các dịch vụ đã trải nghiệm hoặc có những cảm xúc tích cực, vui vẻ tại điểm đến. Chính những yếu tố này cấu thành nên cảm nhận hạnh phúc hay còn gọi hạnh phúc chủ quan của khách du lịch. Do vậy, hạnh phúc chủ quan của du khách cũng là điểm mấu chốt hình thành ý định quay lại.

Việc làm rõ sự ảnh hưởng của hạnh phúc chủ quan lên ý định quay lại thức sự cần thiết. Từ các phương diện thực tế nổi cộm đó, tác giả xét thấy cần nghiên cứu sâu hơn giúp các doanh nghiệp DL tìm được phương hướng thu hút khách hàng quay trở lại. Hơn thế nữa, giúp các nhà hoạch định đưa ra các chính sách phù hợp và hiệu quả hơn nhằm làm đẹp các cảm nhận của du khách đối với điểm đến. Từ đó đạt được mục tiêu về tăng chỉ số về số lượng du khách quay trở lại nhiều lần.2 Bối cảnh lý thuyết Abubakar và ctg (2017) cho rằng người tiêu dùng dịch vụ du lịch được chia làm khách du lịch lần đầu và khách du lịch quay trở lại.

Ra quyết định của khách du lịch lần đầu chủ yếu dựa trên thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau. Điều này dẫn đến sự mong đợi về chuyến đi/ dịch vụ du lịch, chính những kỳ vọng này tạo ra ý định đến thăm lần đầu. Còn ý định quay lại được hình thành khi khách du lịch có mục tiêu sử dụng lặp lại các dịch vụ du lịch mà trước đây đã gặp phải trong thực tế. Ý định quay lại được xem là một chiến lược canh tranh và là chiến lược hiệu quả cho các nhà quản trị (Meng và Cui, 2020).

Việc tăng ý định quay lại của cá nhân là mục tiêu quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp du lịch nào. Làm cho khách du lịch có hứng thú ghé thăm lại và giới thiệu điểm đến cho người khác là mục tiêu của mọi nhà 5 quản lý điểm đến DL. Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu, điển hình là Sthapit và Björk (2017) cho rằng ý định quay lại là một chủ đề nghiên cứu chính trong lĩnh vực DL. Đồng thời, các nghiên cứu về YĐQL điểm đến DL đã được thực hiện tập trung vào việc khai thác và tìm hiểu về các nhân tố làm ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch quay lại của khách du lịch.

Ví dụ như nghiên cứu của: Kim và ctg (2015), Kim và ctg (2020), Hasan và ctg (2017), Artuğer (2015), Holm và ctg (2017), Namkung và Jang (2010), Chai và ctg (2009), Li và ctg (2013), Hasan và ctg (2017), Um và ctg (2006), Phillips và ctg (2011), Ma và ctg (2020), Jung và Lee (2020), Hà Nam Khánh Giao và ctg (2020), Nguyễn Minh Hà và ctg (2019)… Nhìn chung, việc nghiên cứu và khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến của du khách đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện. Các nghiên cứu đã xác định được những nhân tố có giá trị và chỉ rõ mức độ tác động của các nhân tố trên đến ý định của khách du lịch đối với việc quay lại một điểm đến. Các nhân tố này có thể xếp theo hai nhóm: (1) nhóm các nhân tố chỉ ra nguyên nhân khiến khách du lịch gia tăng ý định quay lại, tiêu biểu như sự hài lòng (Chen và ctg, 2016; Abubakar và ctg, 2017), cảm xúc tích cực, hạnh phúc chủ quan (Kim và ctg, 2015; Kim và ctg, 2020)… (2) nhóm các nhân tố chỉ ra nguyên nhân khiến khách du lịch giảm hoặc không có ý định quay lại điểm đến như nhận thức rủi ro (Hashim và ctg, 2018, Savaş Artuğer, 2015; Hasan và ctg, 2017; Çetinsöz và Ege, 2013). Xét theo nhóm giúp gia tăng ý định quay lại, hạnh phúc chủ quan được hiểu là một phần của phép đo lường cảm nhận hài lòng của cá nhân về các sự việc xảy ra trong cuộc sống của mình Neal và ctg (2007).

Nói như vậy, sự hài lòng của khách du lịch cũng chính là một phần của hạnh phúc chủ quan. Diener (1996) cũng cho rằng hạnh phúc chủ quan bao gồm cảm xúc về cuộc sống của họ, bao gồm cả cảm xúc tích cực lần tiêu cực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro, hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại của khách du lịch tại TP.HCM" khám phá mối liên hệ giữa cách mà du khách nhận thức về rủi ro, cảm giác hạnh phúc của họ và quyết định quay lại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tâm lý du khách mà còn giúp các nhà quản lý du lịch hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng và ý định quay lại của khách hàng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro hạnh phúc chủ quan và ý định quay lại của khách du lịch tại Việt Nam trường hợp nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết hơn về nghiên cứu tương tự. Ngoài ra, tài liệu Luận án các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đi du lịch nước ngoài của người Việt Nam cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố quyết định trong hành vi du lịch của người Việt. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về tâm lý và hành vi của du khách.