Chương 1: Tổng quan đề tài GVHD: PGS. Hoàng Trang mô hình phát hiện xâm nhập khi độ phức tạp và chi phí tính toán của các mô hình này ngày càng tăng lên. Từ những bất lợi kể trên, đề tài này đề xuất thuật toán cắt tỉa các tham số cho các mô hình máy học, học sâu để giảm kích thước mô hình và tiêu tốn ít chi phí tính toán. Bên cạnh đó đề tài cũng chiển khai mô hình được đề xuất lên thiết bị định tuyến để đánh giá khả năng hoạt động của mô hình trong việc phát hiện các cuộc tấn công DoS, từ đó có thể áp dụng trên quy mô lớn hơn với tập hợp nhiều các nốt IoT.
Những mục tiêu của đề tài được cụ thể như sau: Hệ thống phát hiện xâm nhập mạng: Xây dựng mô hình phát hiện xâm nhật mạng dựa trên mô hình máy học và áp dụng lên hệ điều hành OpenWRT dành cho các thiết bị định tuyến đáp ứng được các yếu tốt như kích thước mô hình nhỏ, chi phí tính toán thấp nhưng vẫn đảm bảo hiệu năng phát hiện cao. Thuật toán tối ưu cho mô hình học sâu thưa thớt: Tìm hiểu và đề xuất thuật toán tối ưu mô hình học sâu thưa thớt. Từ đó so sánh kết quả đạt được của thuật toán được đề xuất với các thuật toán khác khi áp dụng cho một số mô hình học sâu như MLP, GoogleNet, VGG16 trên các tập dataset MNIST, Cifar10. • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Hệ thống phát hiện xâm nhập mạng: Thiết kế hệ thống phát hiện các cuộc tấn công DoS dựa trên mô hình đã được cắt tỉa và triển khai hệ thống cho thiết bị định tuyến BKRouter để đánh giá khả năng ứng dụng của thiết kế trên quy mô nhỏ từ đó có những định hướng phát triển trên quy mô lớn trong tương lai.
Thuật toán tối ưu cho mô hình học sâu thưa thớt: Đề xuất thuật toán tối ưu mới được cải tiến dựa trên các thuật toán RigL 1 hay SET 2 để tối ưu hóa mô hình, giảm thiểu tối đa các kết nối nhưng vẫn đạt được độ chính xác trên 90%. 1 RigL: Rigging the Lottery [13]: Thay thế các kết nối có độ lớn thấp bằng các kết nối có gradient lớn. 2 SET: Sparse Evalutionary Training: Thay thế các kết nối có độ lớn thấp bằng các kết nối ngẫu nhiên. 4 Chương 2: Cơ sở lý thuyết GVHD: PGS.
Hoàng Trang CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Hệ thống phát hiện xâm nhập mạng IDS (Intrusion Detection Systems – Hệ thống phát hiện xâm nhập) là hệ thống theo dõi, phát hiện kịp thời các hoạt động xâm nhập không mong muốn. Chức năng chính của IDS là xác định các hoạt động nguy hại, lưu giữ các thông tin này vào thông báo cho người quản trị.1 Tính cần thiết của triển khai IDS IDS liên tục giám sát mạng máy tính của tổ chức để tìm các mẫu lưu lượng bất thường, tạo nhật ký sự kiện, cảnh báo cho quản trị viên hệ thống về các sự kiện quan trọng để từ đó đề ra được các phương án ngăn chặn các hành vi xâm nhập tiềm ẩn khi có thể. IDS cũng hữu ích cho việc đánh giá an ninh nội bộ và cung cấp dữ liệu cho các quy định bắt buộc. Phần mềm gián điệp, vi rút và các cuộc tấn công tiếp tục phát triển và ngày nay người ta nhận ra rằng sự kết hợp nhiều lớp của các hệ thống bảo mật làm việc cùng nhau là cần thiết để bảo vệ mạng máy tính khỏi bị xâm phạm.
IDS dưới một số hình thức rất quan trọng đối với bất kỳ mạng máy tính nào có thể bị truy cập bởi những người không được phép. Máy tính giữ dữ liệu nhạy cảm luôn cần được bảo vệ; tuy nhiên, ngay cả những mạng với quy mô nhỏ cũng có thể bị tấn công để sử dụng trong các cuộc tấn công botnet. Mỗi thành phần tham gia trong kiến trúc mạng đều có chức năng, điểm mạnh, điểm yếu khác nhau. Sử dụng, khai thác đúng mục đích sẽ đem lại hiệu quả cao.
IDS là một trong những thành phần quan trọng trong các giải pháp bảo vệ hệ thống. Khi triển khai có thể giúp hệ thống: - Theo dõi các hoạt động bất thường đối với hệ thống. - Xác định ai đang tác động đến hệ thống và cách thức như thế nào, các hoạt động xâm nhập xảy ra tại vị trí nào trong cấu trúc mạng.2 Vị trí của IDS trong mô hình mạng Hệ thống phát hiện xâm nhập mạng thường được triển khai trước hoặc sau firewall. Khi triển khai, IDS được đặt trước firewall là có thể bảo vệ được toàn bộ hệ thống bên trong kể cả firewall, vùng DMZ 3.
Ngoài ra, hệ thống còn có thể giảm thiểu nguy cơ bị tấn công từ 3 DMZ: Demilitarized Zone là một vùng mạng trung lập giữa mạng nội bộ và mạng Internet, là nơi chứa các thông tin cho phép người dùng từ Internet truy xuất vào và chấp nhận các rủi ro tấn công từ Internet. Các 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết GVHD: PGS. Hoàng Trang chối dịch vụ DoS đối với firewall. Mặc khác khi triển khai IDS sau firewall có thể phòng tránh được một số kiểu tấn công thông qua khai thác điểm yếu trên các thiết bị di động sử dụng VPN 4 để kết nối vào bên trong.
Hình 2-1: Ví trị triển khai IDS trong mô hình mạng 5 Vấn đề cần quan tâm khi triển khai IDS đó là đặt nó ở đâu trong hệ thống mạng sao cho các thiết bị trong mạng được đặt có thể nhìn thấy tất cả các lưu lượng di chuyển trên hệ thống mạng. Để biết nên đặt các cảm biến ở đâu có thể trả lời một vài câu hỏi như sau: - Tài nguyên cần bảo vệ là gì? - Hệ thống mạng được thiết kế như thế nào, mô hình mạng thiết kế theo kiểu bus, vòng hay kiểu sao hay kiểu kết hợp…? - Muốn đặt thiết bị mạng trước tường lửa (lọc trước) hay sau tường lửa (không lọc)? - Hệ thống mạng sử dụng thiết bị gì Hub hay Switch? - Thiết bị định tuyến đặt như thế nào trong hệ thống mạng? Tóm lại, nên đặt thiết bị mạng ở nơi nào mà nó có thể thấy được lượng “giao thông” traffic càng nhiều càng tốt. Đó có thể là vị trí kết nối giữa các segment với nhau. Một điểm lưu ý là các IDS trong mô hình trên được gắn vào các hub để đảm bảo không bỏ sót bất cứ dịch vụ thường được triển khai trong vùng DMZ là: máy chủ Web, máy chủ Mail, máy chủ DNS, máy chủ FTP, v.
Được tham khảo từ: https://25giay.vn/hoi-dap/vung-dmz-la-gi.html 4 VPN: Virtual Private Network cho phép người dùng thiết lập mạng riêng ảo với một mạng khác trên Internet, thường các kết nối VPN đều được mã hóa giúp cho các kết nối được bảo mật. 5 Hình 2-1 được tham khảo từ: https://securitydaily.net/network-security-he-thong-ngan-ngua-xam-nhap- ips/ 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết GVHD: PGS. Hoàng Trang lưu lượng mạng nào. Tuy nhiên có thể gắn các IDS này vào “port giám sát” trên switch (span port, port monitoring), khi dữ liệu đi qua switch nó sẽ gửi một bản sao tới các IDS.3 So sánh tường lửa (Firewall) và IDS IPS (Intrusion Prevention Systems – Hệ thống ngăn ngừa xâm nhập) là hệ thống theo dõi, ngăn ngừa kịp thời các hoạt động xâm nhập không mong muốn.
Điểm khác nhau duy nhất là hệ thống IPS ngoài khả năng theo dõi, giám sát thì còn có chức năng ngăn chặn kịp thời các hoạt động nguy hại đối với hệ thống. Hệ thống IPS sử dụng tập luật tương tự như hệ thống IDS 6. Hình 2-2: Vị trí triển khai của 3 hệ thống bảo mật: Firewall, IPS, IDS 7. IPS và firewall đều là các hệ thống cho phép lưu lượng mạng đi qua hoặc bị chặn, nhưng nói một cách khái quát, điểm khác biệt chính là các lớp khác nhau mà mỗi chúng bảo vệ.
- Tường lửa: Quyết định cho phép hoặc chặn lưu lượng mạng dựa trên địa chỉ IP hoặc số cổng. - IPS: Theo dõi lưu lượng di chuyển trên hệ điều hành và mạng để ngăn chặn các thay đổi và liên lạc trái phép. Tường lửa thực hiện các hành động như chặn và lọc lưu lượng trong khi IPS/IDS phát hiện và cảnh báo cho quản trị viên hệ thống hoặc ngăn chặn cuộc tấn công theo cấu hình. 6 Áp dụng luật Snort trong hệ thống IPS.
Khi đó các luật sẽ có kí hiệu drop thay vì alert như trong IDS. 7 Hình 2-2 được tham khảo từ: https://ipwithease.com/firewall-vs-ips-vs-ids/ 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết GVHD: PGS. Hoàng Trang Tường lửa cho phép lưu lượng truy cập dựa trên một tập hợp các quy tắc được định cấu hình. Nó phụ thuộc vào nguồn, địa chỉ đích và các cổng.
Tường lửa có thể từ chối bất kỳ lưu lượng nào không đáp ứng các tiêu chí cụ thể. IDS là một thiết bị thụ động theo dõi các gói dữ liệu truyền qua mạng, so sánh với các mẫu chữ ký và thiết lập cảnh báo khi phát hiện hoạt động đáng ngờ. Ngược lại, IPS là một thiết bị hoạt động ở chế độ nội tuyến và ngăn chặn các cuộc tấn công bằng cách chặn nó. Hình 2-3: So sánh đối tượng bảo vệ giữa IPS, Firewall 8.4 Các kĩ thuật ngăn chặn xâm nhập: Ở phần này sẽ tìm hiểu về những kỹ thuật được sử dụng trên IDS/IPS để phát hiện ra các cuộc xâm nhập.
Về cơ bản có 2 kỹ thuật được sử dụng để phát hiện sự xâm nhập đó là: Phát hiện sự lạm dụng/dấu hiệu (Misuse/Signature Based ID) và Phát hiện sự bất thường (Anomaly Based ID) 2.1 Signature-based Signature-based sẽ thông qua phân tích từ nhật ký hoạt động cũng như lưu lượng mạng để phát hiện xâm nhập dựa trên dấu hiệu của hành vi xâm nhập. Tuy nhiên, việc này đòi hỏi phải duy trì một cơ sở dữ liệu về các dấu hiệu xâm nhập (signature database), và cơ sở dữ liệu này phải được cập nhật thường xuyên mỗi khi có một hình thức hoặc kỹ thuật xâm nhập mới. • Ưu điểm: Ít báo sai và đặc biệt là rất hiệu quả đối với các hình thức xâm nhập đã được biết trước. Nhanh chóng và đáng tin cậy trong việc xác định công cụ và kỹ thuật tấn công.
Từ đó người quản trị hệ thống có thể nhanh chóng đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời. 8 Hình 2-3 được tham khảo từ: https://ipwithease.com/firewall-vs-ips-vs-ids/ 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết GVHD: PGS. Hoàng Trang • Nhược điểm: Để hiệu quả trong việc phát hiện xâm nhập thì phương pháp này phải thường xuyên cập nhật dấu hiệu của các hình thức xâm nhập mới. Các dấu hiệu dùng để phát hiện nếu không được thiết kế chặt chẽ thì có thể sẽ không thể phát hiện ra các cuộc tấn công “biến thể” 9.