Chương 1: Cơ sở lí luận và tổng quan nghiên cứu các mô hình hội tụ năng suất. Chương này trình bày về cơ sở lí thuyết của sự hội tụ và cơ sở lí thuyết các mô hình thực nghiệm về sự hội tụ. Sau đó là phần tổng quan các nghiên cứu về hội tụ ở trong nước và quốc tế. Chương 2: Cơ sở phương pháp luận và thực trạng ngành chế biến thực phẩm và đồ uống Việt Nam giai đoạn 2000-2010.
Trong chương này trình bày tổng quan về TFP và các cơ sở phương pháp luận về cách tính TFP, phương pháp xây dựng các biến có ảnh hưởng đến tốc độ hội tụ trong điều kiện hội nhập kinh tế 5 và các mô hình hội tụ sử dụng cho ước lượng thực nghiệm mà luận án sử dụng. Tiếp đến trình bày các khái niệm về hội tụ được sử dụng trong luận án và các mô hình thực nghiệm. Phần còn lại sẽ trình bày về thực trạng của TFP Việt Nam và ngành chế biến thực phẩm và đồ uống. Chương 3: Kết quả thực nghiệm các mô hình hội tụ năng suất các yếu tố tổng hợp ngành chế biến thực phẩm và đồ uống Việt Nam giai đoạn 2000-2012.
Phần đầu tôi trình bày về cách ước lượng TFP theo các phương pháp khác nhau và thực trạng của TFP ngành chế biến thực phẩm và đồ uống Việt Nam giai đoạn 2000-2012. Phần tiếp theo là kết quả của các mô hình thực nghiệm đã nêu ở chương 2. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC MÔ HÌNH HỘI TỤ NĂNG SUẤT Trong chương này, phần đầu trình bày các cơ sở của các mô hình hội tụ năng suất được nghiên cứu. Bao gồm, cơ sở lý thuyết hội tụ và cơ sở các mô hình thực nghiệm.
Phần còn lại tôi trình bày về tổng quan các công trình nghiên cứu về hội tụ năng suất và rút ra các vấn đề cần nghiên cứu của luận án. Cơ sở lý thuyết hội tụ Từ năm 1956 khi mô hình Tân cổ điển của Solow ra đời đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu thực nghiệm mới, trong đó hướng nghiên cứu về tăng trưởng trong dài hạn có những thành tựu quan trọng. Trong các hướng nghiên cứu về tăng trưởng, có thể kể đến như tăng trưởng GDP, tăng trưởng năng suất, hội tụ GDP đầu người, hội tụ năng suất các nhân tố tổng hợp,… thì hướng nghiên cứu về hội tụ được chú ý hơn cả. Trong hướng này nghiên cứu vấn đề: “các nước nghèo có tăng trưởng nhanh hơn các nước giàu và có thu hẹp khoảng cách với nhau hay không”.
Có nhiều nghiên cứu ủng hộ quan điểm ủng hộ giả thuyết hội tụ như, Barro (1991), Barro và Sala-i-Martin (1992), Mankiw, Romer và Weil (1992) và Islam (1995). Những nghiên cứu thực nghiệm này tập trung nhiều vào vai trò của tư bản trong việc tạo ra tăng trưởng kinh tế. Còn vai trò quan trọng của công nghệ được nhấn mạnh sâu hơn trong các mô hình tăng trưởng nội sinh. Sau đây tôi xin trình bày về mô hình cơ sở cho các phân tích sự hội tụ.
Giới thiệu mô hình Phần này trình bày mô hình tăng trưởng mà sẽ sử dụng để phân tích hội tụ. sẽ xem xét một nền kinh tế đóng. Trong đó, tổng sản lượng được ký hiệu là Y, số lượng lao động là L và lượng vốn nhân lực tích lũy trong lực lượng lao động là H. Do vậy, mức đầu vào lao động hiệu quả là L = LH.
Có một số dạng vốn vật chất khác nhau mà ký hiệu bằng véc-tơ K = (K1, K2,…). Cuối cùng, trạng thái công nghệ được ký hiệu là A. sử dụng hai công nghệ sản xuất khác nhau: Với hàm sản xuất là Y = F K,L,A Trong đó, hoặc 7 F K,L,A F K,LA (1.2) Trong mô hình (1.1) thì sự thay đổi công nghệ được xem như hiệu quả lao động. còn dạng mô hình (1.2) là sự thay đổi công nghệ, các yếu tố tổng hợp được tách riêng khỏi hiệu quả lao động.
Trong phân tích sau này về sự hội tụ sẽ sử dụng mô hình (1. Trong lớp các mô hình nghiên cứu này cần có các giả thiết về hàm sản xuất F như sau: hàm F khả vi hai lần, thuần nhất bậc 1, tăng dần, lồi đồng thời theo tất cả các đối số và lồi chặt theo từng biến. Khi đó điều kiện Inada đối với F để sao cho: Với mọi l và mọi A, L , K1† ,K †2 ,.3) Và với mọi l: F khi Kl 0 (1.4) K l Tính chất lợi tức tăng dần của mô hình tăng trưởng nội sinh sẽ được loại bỏ bởi giả thiết hàm F là hàm thuần nhất bậc một và có tính lõm. Ký hiệu mức sản lượng trên K.
Trong thực tiễn, 1 một đơn vị lao động hiệu quả là y Y LA và véc-tơ k LA các biến này sẽ không quan sát được, do đó nó được viết lại dưới dạng có thể đo được như sau: Y y HA y ; k k1, k 2 ,. HA k L1K L Khi đó, mô hình (1.1) có dạng y = F(k, HA) và mô hình (1. Thay ngược tở lại mô hình (1.1) thì phương trình tổng sản lượng có thể viết lại thành: Y LA F LA K,1 y f k , trong đó: f F ,1. Tốc độ tăng 1 trưởng sản lượng trên một lao động là: 8 y H A 1 ' dk f k f k y H A dt Với f ký hiệu cho Gradien của f: f / k1 f f / k 2 Nhưng: k1 H A k1 H A f k f k k H A f k dk k1 ' , k2 , 2 dt k1 k 2 k2 H A Do vậy ta có: k l f k / k l sl k f k (chú ý rằng sl k [0, 1] và l sl k 1 ), sẽ có phương trình tăng trưởng như sau: y H A k H A l sl k l y H A kl H A hoặc y y k l sl k l kl (1.5) Phương trình (1.5) áp dụng cho cả hai phương trình trên do chúng giống nhau.
Với lý do tương tự, áp dụng cho (1.2) sẽ rút ra phương trình tăng trưởng: 9 y H A k H A y H A l sl k l (1.6) kl H A Ở đây chúng được tính trên kA chứ không phải k. Nhưng dù đánh giá theo cách nào, mỗi giá trị sl đều không âm, và tổng của chúng bị giới hạn ở giá trị 1. Khi F có dạng Cobb-Douglas, mỗi giá trị sl là một hằng số. Tính không âm và bị giới hạn của sl bắt nguồn từ giả thiết của hàm F là tăng dần, thuần nhất, và lõm.
Các biểu thức trong ngoặc bên vế phải của phương trình (1.6) do vậy chỉ có tác động có giới hạn giống nhau lên tốc độ tăng trưởng y / y (tức là tác động của k l / k l lên y / y chỉ là tác động kiểu một-một). Để thấy được sự vận động của hệ thống được đặc trưng bởi mô hình (1.6) sẽ phân tích các đặc trưng của quá trình tăng trưởng cân bằng. Nghĩa là xem xét các trạng thái cân bằng của tiến trình tăng trưởng cân bằng có ổn định hay không. Điều đó có nghĩa là xem xét hai điều kiện sau có thỏa mãn hay không? y kl là một hằng số với mọi l (1.7) y kl yt y t k t Và lim tån t¹i, vµ lim 0 l (1.8) t y t t y t k l t Trong các phương trình (1.8) cần có điều kiện các biến y và k có thể quan sát được.
Trong trường hợp xem xét mô hình với sự tác động của tiến bộ công nghệ thì y và k được chuyển sang dạng y và k , tức là đã điều chỉnh theo tiến bộ công nghệ. Điều này sẽ thuận tiện hơn khi phân tích ở góc độ mô hình lý thuyết.8) cũng phù hợp khi mô hình nghiên cứu có dạng xác định. Đối với mô hình dạng ngẫu nhiên, chúng có thể được điều chỉnh để thành những mệnh đề kỳ vọng. Trong trường hợp mô hình tăng trưởng tân cổ điển với tiến bộ công nghệ ngoại sinh thì công nghệ được giả định có dạng: A t A 0 et Trong đó, là tốc độ tiến bộ công nghệ không đổi và cho trước.
Trạng thái cân bằng của tiến trình tăng trưởng cân bằng khi đó sẽ có tốc độ tăng trưởng của (y, k) bằng , 10 và do vậy y, k là hằng số và xác định. Với mọi giá trị xuất phát của k, các trạng thái cân bằng đều ổn định. Trong những trường hợp khác, ví dụ như tăng trưởng nội sinh, không đảm bảo rằng trạng thái cân bằng của tiến trình tăng trưởng cân bằng có tồn tại hay không. Với các mô hình tăng trưởng nội sinh, đặt ra câu hỏi nghiên cứu là: “có tồn tại hay không trạng thái cân bằng hay không và nếu có thì các trạng thái đó có đặc điểm gì?”.
Phân biệt trạng thái cân bằng của tiến trình tăng trưởng cân bằng và tiến trình tăng trưởng cân bằng sẽ giúp hiểu tại sao việc đưa thêm cấu trúc kinh tế vào các phương trình (1.6) có thể giúp mang lại những cái nhìn mới. Ví dụ, giả sử tiến bộ công nghệ có dạng tăng hiệu quả lao động và khi đó tăng trưởng sẽ theo dạng phương trình (1. Giả sử thêm rằng F có dạng Cobb-Douglas, do vậy: 1 l F K,LA K l t LA l vớil> 0 và ll (0, 1) l Với f k k l t l y k Phương trình (1.5) khi đó trở thành: l l y l kl Do vậy trong tiến trình tăng trưởng cân bằng (1.