CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HỘI TỤNĂNG SUẤT CÁC NHÂN TỐ TỔNG HỢP Trong chương này, chúng tôi trình bày về các khái niệm về năng suất, đặc biệt là năng suất các yếu tố tổng hợp. Đại lượng mà chúng tôi tập trung nghiên cứu. Sau đó, giới thiệu tổng quan nghiên cứu của luận án cũng như các cơ sở lí thuyết của mô hình nghiên cứu cho phần thực nghiệm. Các khái niệm về năng suất Trong nền kinh tế thị trường, dưới sự tác động của kinh tế tri thức, quan niệm và nhận thức về năng suất thay đổi nhanh chóng.
Vì thế cần phải tiếp cận mới về bản chất, đo lường và đánh giá sự biến động của năng suất. Năng suất theo cách tiếp cận mới không chỉ giới hạn trong hoạt động sản xuất mà còn bao gồm cả những hoạt động xã hội1. Phải có sự kết hợp hài hoà giữa tăng năng suất và tăng lợi ích xã hội. Năng suất trở thành phạm trù động có quan hệ biện chứng với nhiều yếu tố, nhiều giai đoạn.
Tăng năng suất là vừa tăng số lượng vừa tăng chất lượng sản phẩm. Tăng năng suất có định hướng quan tâm đầu ra, điều này có nghĩa không chỉ chú tâm đến sử dụng tiết kiệm các yếu tố đầu vào mà nhấn mạnh kết quả đầu ra. Tăng năng suất phải đảm bảo hạn chế gây ô nhiễm môi trường, không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên. Tăng năng suất phải đảm bảo nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện môi trường làm việc.
Hiện nay, phạm trù năng suất liên quan đến nhiều mặt khác nhau. Từ vấn đề hạ thấp chi phí và nâng cao kết quả và chất lượng sản phẩm, năng suất còn liên quan đến vấn đề xã hội như tạo công ăn việc làm, giảm nghèo đói, cải thiện chất lượng cuộc sống, bảo toàn nguồn lực và bảo vệ môi trường. Khi một doanh nghiệp quan tâm đến nâng cao năng suất thì mức độ ảnh hưởng của nó sẽ vượt ra phạm vi của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến nền kinh tế và dân cư. Hay nói cách khác, nâng cao năng suất sẽ ảnh hưởng nhiều mặt đến mọi cấp độ từ nền kinh tế, đến doanh nghiệp và dân cư.
Như vậy, năng suất đóng vai trò trung tâm, là động lực phát triển kinh tế, là cơ sở trong các quyết định ở tầm vĩ và vi mô. Trong bối cảnh hiện nay, năng suất là 1 Nguyễn Đình Phan (1998), Cách tiếp cận mới về năng suất và việc ứng dụng vào Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 8 yếu tố khởi động bên trong của các doanh nghiệp và nền kinh tế. Năng suất có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, đảm bảo xã hội ngày ngày càng tốt hơn.
Tăng năng suất góp phần tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp, phân phối lợi ích tốt hơn cho nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Hiện nay, các nhà kinh tế chưa có sự đồng nhất về phạm trù năng suất. Phạm trù năng suất có lịch sử phát triển lâu đời, được Quesnay sử dụng đầu tiên vào năm 1766. Nó luôn được bổ sung về nội dung và hoàn thiện về phương pháp phân tích nhằm phù hợp với những thay đổi về kinh tế - xã hội.
Các khái niệm về năng suất của các tổ chức được tóm tắt trong bảng 1. Thống kê các khái niệm năng suất TT Định nghĩa Nguồn Năng suất là tính hiệu quả của hoạt động sản xuất được Theo Từ điển Oxford 1 đo bằng việc so sánh giữa khối lượng được sản xuất với thời gian hoặc nguồn lực sử dụng để tạo ra nó Năng suất là đầu ra trên một đơn vị đầu vào được sử Theo Từ điển kinh tế học dụng. Tăng năng suất xuất phát từ tăng tính hiệu quả hiện đại của MIT(Mỹ) 2 của bộ phận vốn, lao động. Cần thiết phải đo năng suất bằng đầu ra thực tế.
Nhưng rất ít khi tách riêng biệt được năng suất của nguồn vốn và lao động. Năng suất là tỷ số giữa đầu ra với tổng các yếu tố đầu Theo Tổ chức Lao động vào. Năng suất là kết quả cuối cùng của quá trình xã hội Thế giới ILO 3 phức tạp gồm: khoa học, nghiên cứu và phát triển, giáo dục, công nghệ, năng lực sản xuất và tổ chức lao động. Một cách tổng quát, năng suất được định nghĩa là tỷ số Theo Tổ chức Hợp tác và 4 giữa số lượng đầu ra với số lượng đầu vào được sử Phát triển Kinh tế (OECD) dụng.
Năng suất là mối liên hệ giữa đầu ra với số lượng nguồn Theo Tổ chức Năng suất 5 lực hay đầu vào như lao động, vật liệu, máy móc, năng Châu Á (APO lượng… dùng để sản xuất Năng suất là chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế trong Theo Bộ Lao động của 6 việc biến đầu vào thành đầu ra. Mỹ: Năng suất là đại lượng đo bằng tỷ số giữa đầu ra và đầu Theo Trung tâm Năng 7 vào, nhưng đầu ra luôn được đo bằng giá trị tăng thêm. suất Nhật Bản Năng suất là khả năng của nền kinh tế trong việc biến Theo các nhà kinh tế 8 đầu vào thành đầu ra. New Zeland Năng suất là một hình thái tư duy, đó là thái độ luôn tìm Cơ quan Năng suất Châu kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại.
Vì có một sự Âu (EPA chắc chắn rằng, con người ngày hôm nay có thể làm việc tốt hơn hôm qua – ngày mai tốt hơn hôm nay và dù kết 9 quả có như thế nào, ý chí cải tiến mới là quan trọng; đó là khả năng luôn thích ứng với các điều kiện thay đổi và nỗ lực không ngừng để áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới; và là niềm tin chắc chắn vào sự tiến bộ của nhân loại. 9 Nguồn tác giả tổng hợp[61] Như vậy, một cách khái quát năng suất phản ảnh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra có ích với đầu vào được sử dụng. Phạm trù năng suất theo cách tiếp cận này gần giống với phạm trù hiệu quả của một số các nhà kinh tế Việt Nam. Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi phí thường xuyên.
Đầu ra thường dùng tổng sản phẩm quốc nội đối với nền kinh tế, địa phương và giá trị tăng thêm đối với ngành, doanh nghiệp. Năng suất có thể tính cho nền kinh tế, địa phương, ngành hay doanh nghiệp, từng hoạt động… Các yếu tố như lao động và vốn là các yếu tố quan trọng, nhưng một yếu tố có tầm quan trọng không kém trong sự phát triển nền kinh tế đó là sự đổi mới liên tục và nâng cao năng suất. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP-Total Factor Productivity) là chỉ tiêu phản ánh thế chủ động về kinh tế của một tổ chức hay một Quốc gia dựa trên sự đổi mới các quá trình sản xuất và công nghệ, kỹ thuật. TFP ngày càng trở nên quan trọng điều kiện phát triển dựa trên đổi mới bằng sự nhấn mạnh vào khả năng sáng tạo, đổi mới và các phương pháp quản lý tiên tiến cũng như các đầu tư mang lại giá trị gia tăng cao.
Ở cấp độ nền kinh tế, TFP được đánh giá dựa trên 2 chỉ số chính, đó là tốc độ tăng trưởng TFP và tỷ trọng đóng góp của tốc độ tăng TFP vào tăng trưởng kinh tế. TFP đo lường sự thay đổi đầu ra trên một đơn vị các đầu vào được kết hợp với nhau bao gồm cả yếu tố nghiên cứu và phát triển, công nghệ mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kỹ năng quản lý và các thay đổi trong tổ chức. TFP phản ánh sự đóng góp của các yếu tố khó lượng hóa như kiến thức – kinh nghiệm – kỹ năng lao động, cơ cấu lại nền kinh tế hay hàng hóa – dịch vụ, chất lượng vốn đầu tư mà chủ yếu là chất lượng thiết bị công nghệ, kỹ năng quản lý… Tác động của nó không trực tiếp như năng suất bộ phận mà phải thông qua sự biến đổi hữu hình, đặc biệt là lao động và vốn [53]. Về căn bản, khái niệm năng suất các yếu tố tổng hợp là một cách đo lường năng suất của cả vốn lẫn lao động cùng lúc trong một hoạt động cụ thể hay cho cả 10 nền kinh tế.
Cụ thể hơn, TFP là là quan hệ giữa đầu ra với tổng hợp các đầu vào, bao gồm cả các yếu tố không định lượng được như quản lý, khoa học công nghệ. Như vậy TFP là một chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hiệu quả các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất và được đo lường bằng tỷ số giữa đầu ra (được tính theo giá so sánh) với mức kết hợp có quyền số giữa các đầu vào. TFP phản ánh hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng vào sản xuất. Ngoài ra TFP còn phản ánh hiệu quả do thay đổi công nghệ, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ quản lý, thời tiết,.
Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất với cùng đầu vào. Điều này là rất quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế. Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ góp phần nâng lương, nâng thưởng, điều kiện lao động được cải thiện, công việc ổn định hơn. Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sản xuất.
Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, nâng cao phúc lợi xã hội. Trong nghiên cứu này, xuất phát từ mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow, phần dư Solow được xem là tiến bộ công nghệ. Với một nền kinh tế hiệu quả thì đó chính là TFP. Mặt khác, vấn đề hội tụ được bắt nguồn từ mô hình tăng trưởng Solow dẫn đến áp dụng nghiên cứu hội tụ cho năng suất TFP.
Như vậy chúng ta vừa thảo luận qua vấn đề năng suất và sự cần thiết của năng suất các nhân tố tổng hợp. Sau đây chúng tôi xin trình bày một số phương pháp tính năng suất các nhân tố tổng hợp. Các phương pháp tính năng suất các yếu tố tổng hợp Để nghiên cứu hội tụ năng suất TFP, chúng tôi ước lượng năng suất TFP từ hai phương pháp. Thứ nhất, phương pháp bán tham số được đề xuất bởi Olley- Pakes (1996)[34] và sau đó được cải biên bởi Levinshon-Petrin (2003)[30] .Thứ hai, phương pháp đa chỉ số được đề xuất bởi Caves, Christensen và Diewert (1982)[16].
Phương pháp bán tham số Chúng tôi xin trình bày nội dung cơ bản nhất và các thủ thuật ước lượng của phương pháp do Levinshon-Petrin đề xuất. Còn phương pháp do Olley và Pakes (1996) thì cũng hoàn toàn tương tự chỉ khác là Olley-Pakes sử dụng biến đầu tư 11 làm biến điều khiển.