CHƯƠNG 1: MÔ HÌNH HỒI QUY LOGISTIC Như chúng ta đã biết, Phân tích hồi quy là một phân tích thống kê để xác định xem các biến độc lập (biến thuyết minh) quy định các biến phụ thuộc (biến được thuyết minh) như thế nào. Trong nhiều trường hợp, biến phụ thuộc không phải là biến liên tục, mà là biến mang tính đo lường nhị phân: có/không, mắc bệnh/không mắc bệnh, xảy ra/không xảy ra …, còn các biến độc lập có thể liên tục hay không. Chúng ta muốn tìm hiểu mối liên hệ giữa các biến độc lập và biến liên tục.1 Mô hình hồi quy Logistic Cho pi là xác suất xảy ra sự kiện thứ i (Yi = 1). Khi đó xác suất để không xảy ra sự kiện thứ i là (1-p i).
Cho một tập các biến cố xi = (1, xi1 , , xip ) với β = (β 0 , β1 , , β p ) ' là một vecto (p+1) chiều của các hệ số hồi quy tương ứng. Khi đó mô hình hồi quy Logistic được biểu diễn như sau: exp( xi' β ) p i = Pr(Y = 1) = (1.) là hàm phân phối xác suất: Ψ ( z) = 1 [1 − exp( −z)] Mô hình này có thể được biểu diễn dưới dạng logit như sau: p log i = xi' β (1.3) 1 − pi Chúng ta định nghĩa khả năng của một biến cố xảy ra (ký hiệu là odds) là tỉ số xác suất biến cố xảy ra trên xác suất biến cố không xảy ra. 6 p odds = 1− p Như vậy: p logit(odds) = 0 khi = 1 → p = 0 .5 hay là số biến cố xảy ra bằng với 1− p số biến cố không xảy ra p logit(odds) là âm khi < 1 → p < 0.5 , hay là số biến cố xảy ra ít hơn 1− p số biến cố không xảy ra p logit(odds) là dương khi > 1 → p > 0.5 , hay là số biến cố xảy ra 1− p nhiều hơn số biến cố không xảy ra Trong mô hình hồi quy Logistic, hàm logit được gọi là hàm liên kết (link) bởi vì nó ánh xạ giá trị trong vùng (0,1) của giá trị xác suất tới vùng giá trị xảy ra (−∞, ∞). Dễ dàng nhận thấy trong công thức (1.2), mối liên hệ giữa giá trị x và xác suất của nó như sau: Hình 1.1: Mối liên hệ giữa x và xác suất 7 Theo công thức (1.3), mối liên hệ giữa x và logit là tuyến tính Hình 1.2: Mối liên hệ giữa x và logit Do đó, chúng ta ký hiệu như sau: Khi xi = 0, giá trị tương ứng là β 0 Khi các xi là không đổi, thì β p là giá trị thay đổi của log odds khi xp thay đổi 1 đơn vị.
Với mỗi xi , ta giữ nguyên các xj khác. Ta quan tâm tới giá trị log odds thay đổi khi cho xi tăng thêm 1 đơn vị: Xét x i = (xi+ 1), khi đó tỉ số của 2 log odds tại Xi+1 = (1, x1, …, (xi + 1), xi+1, …xp) và X i+1 = (1, x1, …, x i , xi+1, …xp) là: + Xi' +1 β exp(( xi + 1)β ) odds( x i 1) = exp( ' ) = = exp(β ) = e β (1.4) odds( xi ) exp( X i β ) exp(( xi ) β ) Tỉ số này được gọi là tỉ số khả dĩ. Theo phân phối Bernoulli, chúng ta có: i ) = Ψ i [1 − Ψi ] 1− Yi Pr( Y Yi , Yi = 0 hay Yi = 1 (1. Để ước lượng được các thông số trong (1.5), chúng ta dùng phương pháp hàm hợp lý ước lượng cực đại (Maximum likehood) đối với N biến độc lập, chúng ta có: N L = ∏ Ψi [1 − Ψi ] 1−Yi (1.6) i= 1 Hay là: N log L= ∑ [ Yi log Ψi + (1 + Yi ) log(1 − Ψi )] (1.7) i=1 Đạo hàm hai vế của (1.7) với các β ta được: ∂ log L = ∑ (Yi − Ψi ) xi (1.8) ∂β i Tiếp tục lấy đạo hàm của (1.8) ta có: ∂ 2 log L = ∑ Ψi (1 − Ψi ) xi xi' (1.9) ∂β ∂β ' i Để giải hệ phương trình không tuyến tính (1.9), chúng ta thường sử dụng phương pháp tính Newton-Rephson.
Trong trường hợp này, chúng ta sẽ có được ước lượng của β sau i bước lặp là: −1 ∂ 2 log L ∂ log L β i +1 = β i − ' (1.10) ∂β i ∂β i ∂β i Chúng ta lặp lại quá trình này cho đến khi các tham số ước lượng và các giá trị xấp xỉ bé hơn một số đủ nhỏ. Khi đó các tham số đồng quy về giá trị gần đúng của nó.2 Mô hình hồi quy Probit Hồi quy Probit là một mô hình Logistic khác mà nó được dùng phổ biến trong ngành di truyền học. Trong mô hình Probit, xác suất của sự kiện pi là phân phối chuẩn: pi = Pr(Yi =1) = Φ( xi' β ) (1.) là hàm phân phối chuẩn.3 mô tả hàm phân phối chuẩn và phân phối Logistic: Hình 1.3: Hàm phân phối chuẩn và Logistic Chúng ta thấy rằng đây là hai đường cong đối xứng, tuy nhiên vị trí của hàm Logistic trong phần cuối của hàm phân phối lớn hơn phân phối chuẩn. Ngược lại, phân phối chuẩn có phương sai bằng 1.
Phân phối Logistic chuẩn có phương sai là bằng π 2 3. Do đó, tỉ lệ của phân phối Logistic sẽ lớn hơn phân phối chuẩn. Bây giờ chúng ta xem xét các mô hình có cùng hàm phân phối, tuy nhiên mô hình Logistic có hàm phân phối chuẩn với phương sai bằng 1.4: Phân phối Logistic chuẩn và phân phối Logistic thường Ta nhận thấy có rất ít sự khác biệt giữa hai đường cong. Do đó muốn phân biệt mô hình Logistic và mô hình Probit, cần thiết phải có tập dữ liệu lớn và chất lượng để nhận thấy sự khác biệt giữa hai mô hình.
Khái niệm ngưỡng giới hạn (Threshold concept) Mô hình hối quy (dichotomous) thường được dùng để minh họa khái niệm ngưỡng giới hạn. Chúng ta giả sử rằng một biến liên tục y cho hàm Y. Một ngưỡng giới hạn ký hiệu là γ khi xác định được một hàm Y sao cho: 0 y ≤ γ Y( y) = 1 y > γ Chúng ta có thể đặt biến y = y − γ , khi đó ngưỡng giới hạn γ cho biến mới sẽ bằng 0.5 minh họa ngưỡng giới hạn của biến liên tục y thỏa mãn hàm mật độ Logistic hoặc hàm mật độ thường.5: Khái niệm ngưỡng giới hạn Chú ý rằng, giả thiết có một phân phối liên tục, trong điều kiện nào đó, không phải là yêu cầu bắt buộc phải đạt được trong các mô hình. Và vì lý do đó, giả sử rằng các thành phần của biến liên tục y được tuân theo mô hình: yi = xi' β + ε i (1.12) εi là phần sai số trong mô hình.
Trong công thức của mô hình hồi quy Logistic, sai số ε i được giả thiết tuân theo phân phối chuẩn với kỳ vọng 0 và phương sai π 2 3 , trong khi mô hình hồi quy Probit sai số theo phân phối chuẩn có kỳ vọng và phương sai 1. Tỉ lệ của sai số là cố định bởi vì y không được quan sát. Do đó, mặc dù mô hình trên đều là mô hình nhiều biến với đầu ra liên tục, nó là một mô hình mà phương sai của sai số là cố định và không thể ước lượng. Phương sai của biến y là xác định bởi giả thiết cho phương sai sai số ε.
Do có điều này, tỉ lệ hệ số hồi quy, tỉ lệ khả dĩ thu được của giá trị y khi chúng ta thay đổi một đơn vị đầu vào x sẽ biểu hiện cho sự khác nhau giữa mô hình hồi quy Logistic và mô hình hồi quy Probit. Cụ thể là, ký hiệu hệ số hồi quy Logistic là β L , hệ số hồi quy Probit là β P , chúng ta có: 12 β L ≈ π 2 3 β P ≈ 1 .13) Tuy nhiên, sau khi tính toán với mô hình thực tế, Amemiya [1981] và Long [1997] gợi ý nên xấp xỉ β L ≈ 1. Do vậy, thường chúng ta kiểm chứng tỉ lệ của hệ số giữa hai mô hình trên là từ 1. Điều tương tự xảy ra cho sai số chuẩn.
Điều này giải thích tại sao thống kê sai số (z-statistics) (Tỉ lệ của ước lượng sai số chuẩn) đối với các hệ số hồi quy Logistic và Probit là gần giống nhau, vì các hệ số hồi quy cùng khác nhau một xấp xỉ từ 1. 13 CHƯƠNG 2: MINH HỌA MÔ HÌNH LOGISTIC Bây giờ, chúng ta xét một phân tích cho mô hình hồi quy Logistic, trong trường hợp i = 1: Chúng ta phát biểu lại bài toán như sau: Cho một tần số biến cố x ghi nhận từ n đối tượng, chúng ta xó thể tính xác suất của biến cố đó là: x p= n Bây giờ chúng ta định nghĩa khả năng xác suất của một biến cố (odds) là tỉ số xác suất biến cố xảy ra trên xác suất biến cố không xảy ra.1) 1− p Hàm logit của odds được định nghĩa như sau: p log it( p) = log (2.2) 1 − p Dễ thấy mối liên hệ giữa p và logit(p) là mối liên hệ liên tục và theo dạng như sau: Hình 2.1: Mối liên hệ giữa logit(p) và p (Với 0 < p < 1). 14 Vậy chúng ta có thể định nghĩa như sau: Cho một biến độc lập x (x có thể liên tục hoặc không liên tục), mô hình hồi quy Logistic là: log it ( p) = α + βx (2.3) Để hiểu hơn về phân tích hồi quy Logistic, chúng ta xem xét một ví dụ như sau: Ví dụ 2.1: Chúng ta tìm hiểu mối liên hệ giữa nguy cơ gãy xương (fracture – fx) và mật độ xương cùng một số chỉ số sinh hóa khác của 139 bệnh nhân (các đối tượng nghiên cứu). Các số liệu thu thập được như sau: 1) Độ tuổi: age 2) Tỉ trọng cơ thể: bmi 3) Mật độ chất khoáng trong xương: bmd 4) Chỉ số hủy xương: ictp 5) Chỉ số tạo xương: pinp Câu hỏi đặt ra là có mối liên hệ nào giữa bmd và nguy xơ gãy xương hay không.
Một phần số liệu nghiên cứu như sau: (Số liệu đầy đủ được trình bày ở phần cuối của luận văn) 15 TT Fx Age BIM BMD ICTP PINP 1 1 79 24.1: Số liệu thống kê các chỉ số về nguy cơ gãy xương Chúng ta muốn phân tích mối liên hệ của nguy cơ gãy xương (đây là một biến phụ thuộc, vì chúng ta chỉ có hai trạng thái gãy xương và không gãy xương) và các biến độc lập khác là các chỉ số sinh hóa.