CHƯƠNG 1. NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VÀ CÁC ỨNG DỤNG CỦA CÔNG NGHỆ KHÍ HÓA SINH KHỐI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH KHÍ HÓA Như chúng ta đã biết, trên trái đất có 9 loại tài nguyên năng lượng gồm: Mặt trời, sinh khối, gió, sóng, Hydro, nhiệt đất, hạt nhân và năng lượng hóa thạch. Ngoại trừ 3 loại cuối, 6 loại còn lại được coi là những nguồn năng lượng tái tạo được, bởi vì chúng không bị mất dần theo thời gian sử dụng của con người [69]. Sinh khối dự trữ năng lượng mặt trời bên trong nó dưới dạng hóa năng trong suốt quá trình quang hợp khi chúng sinh trưởng.
Dạng năng lượng dự trữ này có thể được giải phóng và chuyển hóa sang nhiều dạng năng lượng khác nhau như nhiệt, điện, ánh sáng, và cơ học thông qua một số quá trình công nghệ nâng cấp và nhiệt chuyển hóa [10]. Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các công nghệ nhiệt chuyển hóa sinh khối bởi vì: việc sử dụng sinh khối làm năng lượng có khả năng kiểm soát mức thải CO 2 ra ngoài môi trường [10] và có thể kiểm soát được vấn đề năng lượng không bị phụ thuộc bởi những nguyên liệu hóa thạch. Trong số những công nghệ nhiệt chuyển hóa như khí hóa, nhiệt phân hủy và đốt, thì khí hóa được coi là một công nghệ kinh tế nhất bởi vì nó có thể chuyển hóa sinh khối sang những dạng khí đốt sạch một cách trực tiếp. 1 Nghiên cứu xây dựng mô hình động học giả cân bằng cho quá trình khí hóa các loại vật liệu sinh khối trong thiết bị khí hóa tầng sôi Hình 1.1: Độ tăng mức độ tiêu thụ năng lượng toàn cầu (2001-2005) [3] 2 Nghiên cứu xây dựng mô hình động học giả cân bằng cho quá trình khí hóa các loại vật liệu sinh khối trong thiết bị khí hóa tầng sôi Turbine Sản phẩm đa dạng khí chu trình kết hợp Sản suất điện Pin nhiên liệu Nhiên liệu đa dạng Hydroge n -Than Công Khí tổng hợp -Sinh khối nghệ Sạch Phân bón Ethanol -RDF khí Giá thành thấp hóa Tổng hợp Fischer- Tropsch Diesel/ Keroense Methano l Acid Acetic Hình 1.
Công nghệ khí hóa và ứng dụng của sản phẩm khí tổng hợp Ưu điểm của phương pháp khí hóa là sử dụng khí tổng hợp hiệu quả hơn nhiều so với việc đốt trực tiếp các nguồn nhiên liệu ban đầu do có thể đốt ở nhiệt độ cao hơn. Khí tổng hợp có thể đốt trực tiếp trong các động cơ đốt trong, sử dụng để sản xuất methanol và hydro hoặc chuyển hóa thành nhiên liệu tổng hợp nhờ phương pháp Fischer-Tropsch. Phương pháp khí hóa cũng có thể áp dụng với các loại nhiên liệu không có ích khác như các phế thải hữu cơ hay sinh khối. Quá trình đốt ở nhiệt độ cao giúp loại bỏ các thành phần tro ăn mòn như clorua, kali tạo thành sản phẩm khí sạch [2].
3 Nghiên cứu xây dựng mô hình động học giả cân bằng cho quá trình khí hóa các loại vật liệu sinh khối trong thiết bị khí hóa tầng sôi CHƯƠNG 2. CÁC QUÁ TRÌNH CÔNG NGHỆ KHÍ HÓA SINH KHỐI Sự phân loại dựa trên cách thức tiếp xúc giữa pha khí-pha rắn và môi trường khí hóa. Theo đó, các thiết bị khí hóa được chia ra thành 3 kiểu cơ bản [12]: - Tầng dịch chuyển - Tầng sôi - Tầng (dòng) cuốn theo Công nghệ khí hóa Tầng dịch chuyển Tầng sôi Dòng cuốn theo Sủi bọt Tuần hoàn Tổ hợp (BFB) (CFB) (DCFB) Hình 2. Phân loại các kiểu khí hóa Với mỗi kiểu khí hóa thì có một khoảng áp dụng riêng [13] (tùy theo công suất nhiệt yêu cầu).1 Khí hóa tầng dịch chuyển ( fixed/ moving bed) Trong thiết bị khí hóa dòng cuốn theo và tầng sôi (ở phần sau), môi trường khí hóa vận chuyển các hạt nhiên liệu trong lò, nhưng với tầng dịch chuyển thì nhiên liệu được đỡ bởi ghi lò.
Trong quá trình khí hóa, nhiên liệu dịch chuyển tịnh tiến xuống dưới. Thiết bị cỡ nhỏ kiểu này có thể xây dựng dễ dàng, bởi thế có một số lượng lớn được sử dụng trên toàn thế giới [12]. 4 Nghiên cứu xây dựng mô hình động học giả cân bằng cho quá trình khí hóa các loại vật liệu sinh khối trong thiết bị khí hóa tầng sôi Sự hòa trộn vào trao đổi nhiệt trong tầng dịch chuyển là khá kém, khó đạt được sự phân phối nhiên liệu, nhiệt độ và thành phần các khí một cách đồng đều theo mặt cắt ngang của thiết bị. Bởi thế nó không hiệu quả trong các thiết bị quy mô lớn.2 Các giai đoạn trong thiết bị khí hóa tầng dịch chuyển dòng hướng lên (updraft) [12] Hoạt động: Theo như trên Hình 2.2 thì một thiết bị khí hóa tầng dịch chuyển dòng hướng lên có dòng môi trường khí hóa (không khí, oxi, hoặc hơi nước) đi từ dưới lên qua lớp vật liệu sinh khối còn chuyển động của lớp vật liệu sinh khối có chiều ngược lại.
Khí sản phẩm thoát ra phía trên. Dòng môi trường đi vào qua bộ phân phối (ghi lò), tại đó gặp tầng nóng và xỉ lò [12]. Xỉ rơi qua ghi lò. Kiểu này thích hợp cho loại nhiên liệu có lượng tro xỉ cao, độ ẩm cao (như sinh khối), chất bốc thấp (như than củi) [12].
5 Nghiên cứu xây dựng mô hình động học giả cân bằng cho quá trình khí hóa các loại vật liệu sinh khối trong thiết bị khí hóa tầng sôi 2.2 Khí hóa tầng sôi (fluidized bed) 2.1 Tầng sôi bong bóng (BFB) Được phát triển bởi Fritz Winkler vào năm 1921. Được sử dụng trong thương mại trong nhiều năm cho khí hóa than và sinh khối [12]. Tùy vào điều kiện hoạt động, thiết bị khí hóa tầng sôi bong bóng có thể được nhóm thành kiểu nhiệt độ thấp và kiểu nhiệt độ cao. Chúng có thể hoạt động ở áp suất khí quyển hoặc ở áp suất cao [12].
Trong một lớp tầng sôi phổ biến, vậ liệu sinh khối hoặc than được nghiền nhỏ hơn 10 mm rồi được cấp vào lò. Trong lò có vật liệu tầng ( hạt trơ) đã gia nhiệt và được tạo tầng sôi bởi dòng hơi, không khí, hoặc oxi, hoặc hỗn hợp của chúng (tùy vào việc lựa chọn môi trường khí hóa) [12]. Tro xỉ được tháo xả dễ dàng ở phía đáy tầng [12]. Nhiệt độ thường được giữ dưới 980o C với khí hóa than và dưới 900oC với khí hóa sinh khối để tránh sự nóng chảy của tro và để đảm bảo sự phân hủy hoàn toàn của nhựa than (tar).
Dòng môi trường khí hóa có thể được cấp vào qua 2 giai đoạn: - Cấp vừa đủ để duy trì tầng sôi ở nhiệt độ mong muốn - Cấp thêm để chuyển hóa than (char) chưa phản ứng thành khí hữu ích Lò khí hóa HTW (Hình 2.3) là một ví dụ cho khí hóa than tầng sôi bong bóng nhiệt độ, áp suất cao. Để cải thiện hiệu suất chuyển hóa cacbon, các hạt than nhỏ trong dòng khí sản phẩm được phân tách bởi cyclone và quay trở lại đáy lò. Hệ thống HTW cho ra khí sản phẩm có chất lượng tốt hơn so với lò tầng sôi nhiệt độ thấp truyền thống. 6 Nghiên cứu xây dựng mô hình động học giả cân bằng cho quá trình khí hóa các loại vật liệu sinh khối trong thiết bị khí hóa tầng sôi Hình2.
Thiết bị khí hóa tầng sôi sủi bọt kiểu Winkler nhiệt độ cao (HTW) [12] 7 Nghiên cứu xây dựng mô hình động học giả cân bằng cho quá trình khí hóa các loại vật liệu sinh khối trong thiết bị khí hóa tầng sôi 2.2 Tầng sôi tuần hoàn (CFB) Hình 2. Thiết bị khí hóa tầng sôi tuần hoàn [12] Thiết bị khí hóa CFB có ưu điểm đặc biệt đối với khí hóa sinh khối bởi nó cho phép kéo dài thời gian lưu của các dòng vật chất trong vùng phản ứng. Đặc biệt thích hợp với các nhiên liệu có lượng chất bốc cao. Một thiết bị CFB điển hình gồm một ống đứng (riser), một cyclone, và một thiết bị van tuần hoàn rắn (loop-seal).
Riser có vai trò như một lò khí hóa (gasifier reactor) [12]. Không giống như thiết bị BFB (kiểu như lò Winkler), thiết bị khí hóa CFB có mức độ tuần hoàn rắn cao hơn nhiều do chế độ thủy động học khác nhau. Trong thiết bị CFB, lượng rắn được phân tán tới toàn bộ chiều cao riser, do đó kéo dài thời gian lưu của khí và các hạt rắn mịn (fine particles). Vận tốc sôi trong CFB 8 Nghiên cứu xây dựng mô hình động học giả cân bằng cho quá trình khí hóa các loại vật liệu sinh khối trong thiết bị khí hóa tầng sôi cao hơn nhiều (3,5 – 5,5 m/s) so với tầng sôi bong bóng (bubbling bed) (0,5-1,0 m/s).
Lượng pha rắn chưa phản ứng và vật liệu trao đổi nhiệt ra khỏi vùng khí hóa cũng được thu hồi bằng xyclon và tiếp tục quay trở lại đáy riser [12]. Vì thế, tốc độ tuần hoàn rắn và vận tốc sôi trong riser đủ cao để duy trì riser trong điều kiện thủy động đặc biệt, được biết như là tầng sôi nhanh (fast fluidized bed). Tùy vào loại nhiên liệu và ứng dụng, mà riser có thể hoạt động ở dải nhiệt độ từ 800 đến 1000oC [12]. Khí nóng từ gasifier qua một cyclone, phân tách hầu hết các chất rắn liên kết với nó, rồi qua loop-seal trả lại các hạt về đáy của gasifier [12].3 Tầng sôi tổ hợp (DFB) (hybrid /twin reactor, dual fluidized bed) Hình 2.
Thiết bị khí hóa tầng sôi kiểu tổ hợp (CFB và BFB) [11, 14] Một vấn đề lớn trong quá trình khí hóa than hoặc vật liệu sinh khối là sự pha loãng khí sản phẩm bởi N 2 trong không khí (mà được dùng cho phản ứng cháy nhằm sinh 9 Nghiên cứu xây dựng mô hình động học giả cân bằng cho quá trình khí hóa các loại vật liệu sinh khối trong thiết bị khí hóa tầng sôi ra lượng nhiệt cần thiết để duy trì các phản ứng khí hóa). Để tránh điều này, O 2 được dùng thay thế, nhưng giá thành sẽ tăng đáng kể. Lò khí hóa ghép đôi (trong một số nghiên cứu gọi là “lò tầng sôi tổ hợp”) có thể khắc phục được vấn đề này bằng cách tách biệt buồng cháy (combustor) và gasifier (Hình 2.5), như vậy N 2 trong không khí cháy sẽ không pha loãng sản phẩm khí. Hệ thống này hiện đang được sử dụng phổ biến cho cả than và vật liệu sinh khối [12].