Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên Chương 2: Hoạt động giáo dục đạo đức, lỗi sống cho sinh viên trường Đại học Quốc gia Lào tại thủ đô Viêng Chăn Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên trường Đại học Quốc gia Lào tại thủ đô Viéng Chăn hiện nay 19 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE GIÁO DUC ĐẠO ĐỨC, LOI SONG CHO SINH VIÊN 1. Khái niệm công cụ 1. Khát niệm giáo dục Giáo dục là thuật ngữ quan trọng đã được làm rõ nội hàm trong rất nhiều công trình nghiên cứu với các hướng tiếp cận khác nhau. Tác gia Bounkeo Selavong (2012) trong “Giáo trình khoa học giáo dục” đã đưa ra định nghĩa “giáo dục là quá trình truyền đạt kiến thức, kỹ năng giúp người học lĩnh hội dé trở nên tốt hon, ứng dụng nó được vào cuộc sống”.
Xét về mặt bản chất của hoạt động giáo dục, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã đồng tình. Học giả Phạm Khắc Chương (2010) trong nghiên cứu “Đạo đức học: Dùng cho các trưởng đại học và cao đăng su phạm” đã nhận định “giáo duc là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho đối tượng giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen, hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội”. Tại Việt Nam, dưới góc độ pháp lý, Luật Giáo dục Đại học năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2018 đã xác định giáo dục nhằm phát triển toàn điện con người có đạo đức, tri thức văn hóa, sức khỏe, thâm mỹ và nghề nghiệp, có phẩm chất, năng luc và ý thức công dân, có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc (Điều 5). Tại Lào, Hiến pháp Lào năm 2015 khăng định “Mục đích của các hoạt động giáo dục, văn hóa và khoa học là nâng cao trình độ dân trí, nâng cao tinh thần yêu nước, yêu dân chủ, tăng cường đoàn kết các dân tộc, và tinh thần độc lập” (Điều 19).
Trên cơ sở đó, Luật Giáo dục Lào năm 2015 đã đưa ra định nghĩa “Giáo dục là quá trình học tập — giảng dạy về khoa học tự nhiên, xã hội và nghiên cứu lý luận, hành động xây dựng nguồn nhân lực có đầy đủ chuyên môn, dao dire và thái độ cách mạng, có kiến thức, kỹ năng, sức khỏe tốt, tinh thần văn minh, thé mỹ, kỷ cương, tinh thần yêu nước, phục vụ nền dân chủ nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ và phát triển đất nước” (Điều 2). 20 Tác giả Tạ Thị Thanh Hà (2018) trong luận án Tiến sĩ “Giáo dục đạo đức trong việc xây dựng lỗi sống cho sinh viên Việt Nam hiện nay (qua thực tế các trường cao đăng, đại học ở Hà Nội)” đã khăng định hoạt động giáo dục mang tính hai mặt: “Mặt thứ nhất là sự tác động bên ngoài vào đối tượng giáo dục; mặt thứ hai là thông qua sự tác động để con người tự giáo dục chính bản thân mình và ngày càng hoan thiện hơn”. Tính hai mặt này của hoạt động giáo dục tác động trực tiếp vào nhận thức của con người, một mặt, nâng cao nhận thức, hiểu biết về sự vật. hiện tượng; mặt khác điều chỉnh hành vi và thái độ ứng xử để phù hợp với các chuân mực xã hội, góp phần xây dựng những giá trị mới cho đất nước, xã hội.
Tác giả Nguyễn Hữu Thức khẳng định: “Giáo dục là quá trình chia sẻ, chuyển giao kiến thức, kĩ năng sống một cách có ý thức, có mục đích của con người với con người”. Có thé thấy sự tương đồng về mặt khái niệm giữa các nhà nghiên cứu, thé hiện thông qua việc khang định giáo dục phải là “một quá trình” với các chủ thể đặc biệt. Trong đó, chủ thể thực hiện hoạt động giáo dục là người có kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng truyền đạt tới người được giáo dục thông qua đa dạng các hình thức như nói, viết, hoạt động, hình ảnh. Quá trình giáo dục diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định và tăng dần về tính chuyên môn.
Do đó mà người học cùng với quá trình đó lĩnh hội được nhiều hơn và sâu hơn các kiến thức, kỹ năng được truyền dạy. Trong phạm vi của luận văn, tác giả không xây dựng khái niệm mới về giáo duc mà kế thừa những định nghĩa sẵn có về giáo dục dé triển khai nghiên cứu phù hợp với đề tài, cụ thể là khái niệm của tác giả Bounkeo Selavong: “Giáo dục là quá trình truyền đạt kiến thức, kỹ năng giúp người học lĩnh hội đề trở nên tốt hơn, ứng dụng nó được vào cuộc sống”. Khát niệm đạo đức Khái niệm đạo đức được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ triết hoc, tác gia Vũ Khiêu (1993) qua bài viết “Giá tri đạo đức trong xã hội ta ngày nay” đã đưa ra quan điểm “đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh và bị quy định bởi ton tại xã hội”.
Hay nói cách khác, toàn bộ ý thức 21 đạo đức (quan niệm, quan điểm, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các lý tưởng, niềm tin và tình cảm bảo đạo) đều là biểu hiện của một trạng thái, phản ánh trình độ phát triển nhất định của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Do đó, đạo đức có ban chat xã hội. Trong Từ điển tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê (2017) đã đưa ra định nghĩa: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội hoặc là ham chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có”. Tác giả Phạm Minh Hạc (2010) đã xây dựng khái niệm đạo đức “theo nghĩa hẹp là những luân lý, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người.
Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, ké cả với thiên nhiên và môi trường sống”. Theo tác giả Phạm Khắc Chương (2010): “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những tồn tại xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội thực hiện trên cơ sở kinh tế. Sự phát triển của đạo đức xã hội từ thấp đến cao như những nắc thang giá trị của văn minh con người, trên cơ sở phát triển của sức sản xuất và thông qua đấu tranh, gạn lọc, kế thừa mà nội dung đạo đức ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn”. Tại Lào, tác giả Hatsady Vilaketh (2012) trong Luận án tiến sĩ với dé tải “Giáo dục đạo đức truyền thống và lối sống cho sinh viên khối trường Đại học tại thủ đô Viêng Chăn” đã đưa ra khái niệm: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội của con người, có sự vận động và phát triển, gắn liền và phản ánh quan hệ xã hội chịu sự chi phối bởi các điều kiện kinh tế xã hội”.
Có thé thấy có rất nhiều định nghĩa va cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa về đạo đức, tuy nhiên đều có điểm chung giữa các khái niệm. Trên cơ sở đó, có thé khái quát định nghĩa về đạo đức như sau: “Đạo đức là hệ thống các quy tắc 22 và chuẩn mực xã hội, thông qua đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi ứng xử của bản thân đề phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội”. Khái niệm lỗi sống Khi nghiên cứu về lối sống của sinh viên, trước hết phải bắt đầu tìm hiểu về khái niệm lối song. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về lối sống.
Tại Nga (trước đây là Liên Xô), tác giả V.Doboranop (1958) trong cuốn “Xã hội học Mác Lê-nin” đã đưa ra khái niệm về lối sống từ góc nhìn xã hội như sau: “Lỗi sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thé những điều kiện sống, thé hiện trong hoạt động sống của con người”. Có thé thay, lối sống chính là những gì xoay quanh của cá nhân đó. Tại Việt Nam, tác giả Hoàng Phê (2017) đưa ra khái niệm “lối sống là những nét điển hình, được lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, hay là cả một nền văn hóa. Lối song ca nhan được đặc trưng bởi cái nhìn về thực tại, cá tính, bản sắc cá nhân cũng như những ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh như gia đình, nơi sinh sống, giáo dục, văn hóa và đặc biệt là truyền thông”.
Theo cách định nghĩa này lối sống gắn liền với văn hóa gia đình, xã hội nhiều hơn. Tác giả Vũ Khiêu (1993) đã đưa ra khái niệm về “lối sống” bao gồm những nét đặc trưng cơ bản nhất, từ phương diện phương tiện sản xuất vật chất và hình thái kinh tế xã hội cho đến phương diện sinh hoạt tinh thần. Theo đó, “lối sống là phạm trù xã hội, khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tỉnh thần và văn hóa”. Ở phạm vi khái quát hon, tác giả Tạ Thị Thanh Hà (2018) đưa ra khái niệm lối sống như sau: “Lối sống là cách thức sống, phương thức sống của con người trong một chế độ xã hội nhất định được biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống như lao động sản xuất, hoạt động chính trị, hoạt động văn hóa tinh thần và hoạt động hàng ngày”.
23 Tại Lào, khái niệm lối sống được tác giả Hatsady Vilaketh (2012) đưa ra như sau: “Lối sống của con người là hành động được lặp đi lặp lại, bao gồm đối xử giữa con người với nhau, được hình thành và phát triển gan với từng độ tuôi”. Tác giả Phongpholsena Phuddavong (2017) trong luận văn thạc sỹ “Công fác giáo dục đạo đức lối sống cho sinh viên trường Đại học Souphanouvong trong giai đoạn hiện nay - Thực trạng và giải pháp” khi đưa ra khái niệm “lôi sống” lại cho rằng: “Lối sông là một phạm trù xã hội khái quát hoạt động của con người, đặc trưng của cá nhân, nhóm xã hội, được lặp đi lặp lại, có tính ôn định và bền vững”. Ở cách định nghĩa này có thê thấy lối sống mang tính thói quen của cá nhân nhiều hơn.