Mở đầu Mạng viễn thông thƣờng đƣợc cấu thành bởi ba Mạng chính: Mạng đƣờng trục, Mạng phía khách hàng và Mạng truy nhập.Trong những năm gần đây, Mạng đƣờng trục có những bƣớc phát triển nhảy vọt do sự xuất hiện của các công nghệ mới, nhƣ công nghệ ghép kênh theo bƣớc sóng (DWDM). Cũng trong khoảng thời gian này, Mạng nội hạt (LAN) cũng đã đƣợc cải tiến và nâng cấp từ tốc độ 10 Mb/s lên đến 1Gb/s. Thậm chí, các sản phẩm Ethernet 10 Gb/s cũng đã bắt đầu xuất hiện trên thị trƣờng. Điều này đã dẫn đến một sự chênh lệch rất lớn về băng thông giữa một bên là mạng LAN tốc độ cao và mạng đƣờng trục và một bên là mạng truy nhập tốc độ thấp, mà chúng ta vẫn thƣờng gọi đó là nút cổ chai (bottleneck) trong mạng viễn thông.
Việc bùng nổ lƣu lƣợng Internet trong thời gian vừa qua càng làm trầm trọng thêm các vấn đề của mạng truy nhập tốc độ thấp. Các báo cáo thống kê cho thấy lƣu lƣợng dữ liệu đã tăng 100% mỗi năm kể từ năm 2000. Thậm chí, sự kết hợp giữa các yếu tố kinh tế và công nghệ đã tạo ra những thời điểm mà tốc độ phát triển đạt tới 1000%. Xu hƣớng này vẫn sẽ còn tiếp tục trong tƣơng lai, tức là càng ngày sẽ càng có nhiều ngƣời sử dụng trực tuyến và những ngƣời sử dụng đã trực tuyến thì thời gian trực tuyến sẽ càng nhiều hơn, do vậy nhu cầu về băng thông lại càng tăng lên [1].
Các nghiên cứu thị trƣờng cho thấy rằng, sau khi nâng cấp lên công nghệ băng rộng, thời gian trực tuyến của ngƣời sử dụng đã tăng lên 35% so với trƣớc khi nâng cấp. Lƣu lƣợng thoại cũng tăng lên, nhƣng với tốc độ tăng thấp hơn nhiều (khoảng 8% mỗi năm). Theo hầu hết các báo cáo phân tích, lƣu lƣợng của dữ liệu hiện nay đã vƣợt trội hơn rất nhiều so với lƣu lƣợng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Càng ngày sẽ càng có nhiều dịch vụ và các ứng dụng mới đƣợc triển khai khi băng thông dành cho ngƣời sử dụng tăng lên.
Đứng trƣớc tình hình đó, một số công nghệ mới đã đƣợc đƣa ra nhằm đáp ứng những đòi hỏi về băng tần [1]. Trƣớc đây, các nhà cung cấp dịch vụ đã triển khai cung cấp dịch vụ Internet bằng công nghệ đƣờng dây thuê bao số DSL. DSL sử dụng đôi dây giống nhƣ dây điện thoại, và yêu cầu phải có một modem DSL đặt tại thuê bao và DSLAM đặt tại tổng đài. Tốc độ dữ liệu của DSL nằm trong khoảng từ 128Kb/s đến 1,5Mb/s.
Mặc dù tốc độ của nó đã tăng đáng kể so với modem tƣơng tự, nhƣng khó có thể đƣợc coi là băng rộng do không cung cấp đƣợc các dịch vụ video, thoại, dữ liệu cho các thuê bao ở xa. Khoảng cách từ tổng đài đến theo bao chỉ trong phạm vi 5,5 km. Ta có thể tăng khoảng cách này bằng giải pháp triển khai thêm nhiều DSLAM đến gần thuê bao, nhƣng đây là một giải pháp không hiệu quả do chi phí quá cao. Nhƣ vậy, chúng ta thấy rằng cả công nghệ DSL không đáp ứng đƣợc những yêu cầu về băng thông cho mạng truy nhập.
Hầu hết các nhà công nghệ mạng hiện nay đều đang tiến tới một công nghệ mới, tập trung chủ yếu vào truyền tải dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu IP. Hiện nay, công nghệ không dây dựa trên Wifi với tốc độ truy cập đạt tới 100Mb/s đã đƣợc sử dụng. Trong bối cảnh đó, công nghệ PON sẽ là một giải pháp tối ƣu cho mạng truy nhập băng rộng hoặc chuyển tiếp dữ liệu không dây Wifi. Ngƣời ta trông đợi Mạng PON sẽ giải quyết đƣợc các vấn đề tắc nghẽn băng thông của mạng truy nhập trong kiến trúc.
Mạng viễn thông, giữa một bên là các nhà cung cấp dịch vụ CO (Central Ofice), các điểm kết cuối, các điểm truy nhập và một bên là các công ty đƣợc cung cấp dịch vụ, hay một khu vực tập trung các thuê bao [2]. Mạng quang thụ động có thể định nghĩa một cách ngắn gọn nhƣ sau: 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “PON là một mạng quang chỉ có các phần tử thụ động và không có các phần tử tích cực làm ảnh hƣởng đến tốc độ truyền dẫn”. Nhƣ vậy với khái niệm này, Mạng PON sẽ không chứa bất kỳ một phần tử tích cực nào mà cần phải có sự chuyển đổi điện-quang. Thay vào đó, PON sẽ chỉ bao gồm: sợi quang, các bộ chia, bộ kết hợp, bộ ghép định hƣớng, thấu kính, bộ lọc,.
điều này giúp cho PON có một số ƣu điểm nhƣ: không cần nguồn điện cung cấp nên không bị ảnh hƣởng bởi lỗi nguồn, có độ tin cậy cao và không cần phải bảo dƣỡng do tín hiệu không bị suy hao nhiều nhƣ đối với các phần tử tích cực. Mạng PON ngoài việc giải quyết các vấn đề về băng thông, nó còn có ƣu điểm là chi phí lắp đặt thấp do nó tận dụng đƣợc những sợi quang trong mạng đã có từ trƣớc. PON cũng dễ dàng và thuận tiện trong việc ghép thêm các ONU theo yêu cầu của các dịch vụ, trong khi đó việc thiết lập thêm các nút trong Mạng tích cực khá phức tạp do việc cấp nguồn tại mỗi nút Mạng, và trong mỗi nút Mạng đều cần có các bộ phát lại. PON có thể hoạt động với chế độ không đối xứng.
Chẳng hạn, một mạng PON có thể truyền dẫn theo luồng OC-12 (622 Mbits/s) ở đƣờng xuống và truy nhập theo luồng OC-3 (155 Mbits/s) ở đƣờng lên. Một mạng không đối xứng nhƣ vậy sẽ giúp cho chi phí của các ONU giảm đi rất nhiều, do chỉ phải sử dụng các bộ thu phát giá thành thấp hơn. PON còn có khả năng chống lỗi cao (cao hơn SONET/SDH). Do các nút của mạng PON nằm ở bên ngoài mạng, nên tổn hao năng lƣợng trên các nút này không gây ảnh hƣởng gì đến các nút khác.
Khả năng một nút mất năng lƣợng mà không làm ngắt mạng là rất quan trọng đối với mạng truy nhập, do các nhà cung cấp không thể đảm bảo đƣợc năng lƣợng dự phòng cho tất cả các đầu cuối ở xa [3]. Với những lý do nhƣ trên, công nghệ PON có thể đƣợc coi là một giải 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp hàng đầu cho Mạng truy nhập. PON cũng cho phép tƣơng thích với các giao diện SONET/SDH và có thể đƣợc sử dụng nhƣ một vòng thu quang thay thế cho các tuyến truyền dẫn ngắn trong Mạng đô thị hay mạch vòng SONET/SDH đƣờng trục. Kiến trúc của PON Các phần tử thụ động của PON đều nằm trong mạng phân bố quang (hay còn gọi là mạng ngoại vi) bao gồm các phần tử nhƣ sợi quang, các bộ tách/ghép quang thụ động, các đầu nối và các mối hàn quang.
Các phần tử tích cực nhƣ OLT và các ONU đều nằm ở đầu cuối của PON. Tín hiệu trong PON có thể đƣợc phân ra và truyền đi theo nhiều sợi quang hoặc đƣợc kết hợp lại và truyền trên một sợi quang thông qua bộ ghép quang, phụ thuộc vào tín hiệu đó là đi theo hƣớng lên hay hƣớng xuống của PON [6]. PON thƣờng đƣợc triển khai trên sợi quang đơn mode, với có hình dạng hình cây (tree) là phổ biến. PON cũng có thể đƣợc triển khai theo cấu hình vòng (ring) cho các khu thƣơng mại hoặc theo cấu hình đƣờng trục (bus) khi triển khai trong các khu trƣờng sở.
Mô hình mạng quang thụ động với các phần tử của nó đƣợc biểu diễn nhƣ trong hình 1-1. Hình 1-1: Mô hình Mạng quang thụ động. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt logic, PON đƣợc sử dụng nhƣ mạng truy nhập kết nối điểm - đa điểm, với một CO phục vụ cho nhiều thuê bao. Có một số cấu hình kết nối điểm-đa điểm phù hợp cho mạng truy nhập nhƣ cấu hình cây, cây và nhánh, vòng ring, hoặc bus nhƣ trong hình 1-2.
Bằng cách sử dụng các bộ ghép (1:2) và bộ chia quang (1:N), PON có thể triển khai theo bất cứ cấu hình nào trong các cấu hình trên. Ngoài ra, PON còn có thể thu gọn lại thành các vòng ring kép, hay hình cây, hay một nhánh của cây. Tất cả các tuyến truyền dẫn trong PON đều đƣợc thực hiện giữa OLT và ONU. OLT nằm ở CO và kết nối mạng truy nhập quang với mạng đô thị (MAN) hay mạng diện rộng (WAN), đƣợc biết đến nhƣ là những mạng đƣờng trục.
ONU nằm tại vị trí đầu cuối ngƣời sử dụng (FTTH hay FTTB hoặc FTTC) Hình 1-2: Các kiểu kiến trúc của PON. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong các cấu hình trên, cấu hình cây 1:N (a) hay cấu hình vòng (b) đƣợc sử dụng phổ biến nhất. Đây là những cấu hình rất mềm dẻo, phù hợp với nhu cầu phát triển của thuê bao, cũng nhƣ những đòi hỏi ngày càng tăng về băng thông [5].3 Các hệ thống PON đang đƣợc triển khai.1 APON/BPON Từ năm 1995, 7 nhà khai thác mạng hàng đầu thế giới đã lập nên nhóm FSAN (Full Service Access Network) với mục tiêu là thống nhất các tiêu chí cho mạng truy nhập băng rộng. Hiện nay các thành viễn của FSAN đã tăng lên đến trên 40 trong đó có nhiều hãng sản xuất và cung cấp thiết bị viễn thông lớn trên thế giới.Các thành viên của FSAN đã phát triển một tiêu chí cho mạng truy nhập PON sử dụng công nghệ ATM và giao thức lớp 2 của nó.
Hệ thống này đƣợc gọi là APON (viết tắt của ATM PON). Mạng APON sử dụng công nghệ ATM là giao thức truyền tin [6,10]. Công nghệ ATM cung cấp sự mềm dẻo theo khái niệm độ trong suốt dịch vụ và phân bổ băng tần,ngoài ra còn có những tính năng rất hữu ích cho hoạt động khai thác và bảo dƣỡng các kết nối từ đầu cuối đến đầu cuối nhờ đó giảm đƣợc chi phí hoạt động của mạng. Các ƣu điểm của ATM đƣợc kết hợp với môi trƣờng truyền dẫn là sợi quang với tài nguyên băng tần dƣờng nhƣ là vô hạn đã tạo ra một mạng truy nhập băng rộng đƣợc biết tới nhƣ là BPON (Broadband PON - mạng PON băng rộng).
Nhƣ mọi hệ thống khác, APON cũng đƣợc chia thành các lớp, lớp con với cácnhiệm vụ cụ thể. Các lớp này thuộc một trong hai mặt bằng: Một là mặt bằng dữ liệu có nhiệm vụ phân phối lƣu lƣợng đến và đi từ các thiết bị đầu cuối, trong trƣờng hợp này là các cổng tại OLT và ONU. Hai là mặt bằng điều khiển, hay mặt bằng OAM hay hệ thống hỗ trợ hoạt động (OSS), thực hiện các chức năng vận hành, điều khiển, quản lý. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.