Chương 1: Tổng quan về công nghệ VoIP - Chương 2: Các phương pháp và kỹ thuật nén trong VoIP - Chương 3: Giải pháp bảo mật VoIP - Chương 4: Xây dựng ứng dụng bảo mật thoại trên mạng Internet - Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ VoIP VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Tổng quan về an toàn và bảo mật thông tin 1. Các vấn đề chung về an toàn bảo mật thông tin Khi nhu cầu trao đổi thông tin dữ liệu ngày càng lớn và đa dạng, các tiến bộ về điện tử - viễn thông và công nghệ thông tin không ngừng được phát triển ứng dụng để nâng cao chất lượng và lưu lượng truyền tin thì các quan niệm ý tưởng và biện pháp bảo vệ thông tin dữ liệu cũng được đổi mới. Bảo vệ an toàn thông tin dữ liệu là một chủ đề rộng, có liên quan đến nhiều lĩnh vực và trong thực tế có thể có rất nhiều phương pháp được thực hiện để bảo vệ an toàn thông tin dữ liệu.
Các phương pháp bảo vệ an toàn thông tin dữ liệu có thể được quy tụ vào ba nhóm sau: Nhóm 1. Bảo vệ an toàn thông tin bằng các biện pháp hành chính. Bảo vệ an toàn thông tin bằng các biện pháp kỹ thuật (phần cứng). Bảo vệ an toàn thông tin bằng các biện pháp thuật toán (phần mềm).
Ba nhóm trên có thể được ứng dụng riêng rẽ hoặc phối kết hợp. Môi trường khó bảo vệ an toàn thông tin nhất đó là môi trường mạng và truyền tin và đây cũng là môi trường đối phương rất dễ xâm nhập. Biện pháp hiệu quả nhất và kinh tế nhất hiện nay trên mạng truyền tin và mạng máy tính là biện pháp thuật toán. An toàn bảo mật thông tin nhằm đảm bảo các tính chất sau: - Tính bí mật: Đảm bảo được sự đáo riêng tư của thông tin - Tính toàn vẹn: Các thông tin không thể bị sửa đổi bởi những người không có thẩm quyền - Tính sẵn sàng: Thông tin phải được đảm bảo rằng luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sử dụng của người có thẩm quyền.
Để đảm bảo an toàn thông tin dữ liệu trên đường truyền tin và trên mạng máy tính có hiệu quả thì điều trước tiên là phải lường trước hoặc dự đoán trước các khả năng không an toàn, khả năng xâm phạm, các sự cố rủi ro có thể xảy ra đối với thông tin dữ liệu được lưu trữ và trao đổi trên đường truyền tin cũng như trên mạng. Xác định càng chính xác các nguy cơ nói trên thì càng quyết định được tốt các giải pháp để giảm thiểu các thiệt hại. Có hai loại hành vi xâm phạm thông tin dữ liệu đó là: vi phạm chủ động và vi phạm thụ động. Vi phạm thụ động chỉ nhằm mục đích cuối cùng là nắm bắt được thông tin (đánh cắp thông tin).
Việc làm đó có khi không biết được nội dung cụ thể nhưng có thể dò ra được người gửi, người nhận nhờ thông tin điều khiển giao thức chứa trong phần đầu các gói tin. Kẻ xâm nhập có thể kiểm tra được số lượng, độ dài và tần số trao đổi. Vì vậy vi pham thụ động không làm sai lệch hoặc hủy hoại nội dung thông tin dữ liệu được trao đổi. Vi phạm thụ động thường khó phát hiện nhưng có thể có những biện pháp ngăn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 chặn hiệu quả.
Vi phạm chủ động là dạng vi phạm có thể làm thay đổi nội dung, xóa bỏ, làm trễ, sắp xếp lại thứ tự hoặc làm lặp lại gói tin tại thời điểm đó hoặc sau đó một thời gian. Vi phạm chủ động có thể thêm vào một số thông tin ngoại lai để làm sai lệch nội dung thông tin trao đổi. Vi phạm chủ động dễ phát hiện nhưng để ngăn chặn hiệu quả thì khó khăn hơn nhiều. Một thực tế là không có một biện pháp bảo vệ an toàn thông tin dữ liệu nào là an toàn tuyệt đối.
Một hệ thống dù được bảo vệ chắc chắn đến đâu cũng không thể đảm bảo là an toàn tuyệt đối. Thực trạng của vấn đề bảo mật thoại trên mạng Internet Như chúng ta thấy, bảo mật là vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu trong nghành CNTT, nó quyết định tính sống còn của một sản phẩm và VoIP cũng không nằm ngoài lĩnh vực này. Theo hãng bảo mật Scanit tình trạng bảo mật VoIP hiện nay là rất tồi tệ. Thống kê cho thấy có tời 7/10 cuộc gọi VoIP là “mồi ngon” cho bọn tin tặc.
Báo cáo nghiên cứu mới nhất của Scanit khẳng định bằng cách "móc nối" vào hệ thống mạng điện thoại VoIP bọn tin tặc có thể dễ dàng đánh cắp các dữ liệu các cuộc gọi. Không những thế chúng còn có thể ăn cắp được số PIN truy cập các dịch vụ ngân hàng qua điện thoại từ các tổng đài VoIP (call center). Tình trạng này là hậu quả của việc các tổng đài VoIP đã không thể bảo mật hệ thống mạng điện thoại Internet một cách đúng đắn và đầy đủ. Các chuyên gia bảo mật cho rằng nguyên nhân gây ra tình trạng đó là do rất nhiều hãng triển khai dịch vụ mạng điện thoại VoIP luôn nghĩ rằng nhà sản xuất thiết bị mạng VoIP đã tích hợp đầy đủ các giải pháp bảo mật vào trong sản phẩm của họ.
Điều này dẫn đến kết quả là không ít các nhà cung cấp dịch vụ VoIP đã không thèm áp dụng thêm bất kỳ một giải pháp bảo mật nào nữa cho hệ thống mạng của họ. "Không những thế các nhà quản trị mạng VoIP còn thiếu những kỹ năng cần thiết cũng như thiếu hiểu biết về các thiết lập cấu hình bảo mật mạng VoIP. Đa số họ hiện vẫn đặt hết niềm tin vào nhà cung cấp thiết bị hoặc bộ tích hợp hệ thống để bảo mật mạng," Sheran Gunasekera - chuyên gia của Scanit - cho biết. Tổng quan về lý thuyết mật mã 1.
Định nghĩa mật mã là gì? Mật mã học là một lĩnh vực liên quan với các kỹ thuật ngôn ngữ và toán học để đảm bảo an toàn thông tin, cụ thể là trong thông tin liên lạc. Về phương diện lịch sử, mật mã học gắn liền với quá trình mã hóa; điều này có nghĩa là nó gắn với các cách thức để chuyển đổi thông tin từ dạng này sang dạng khác nhưng ở đây là từ dạng thông thường có thể nhận thức được thành dạng không thể nhận thức được, làm cho thông tin trở thành dạng không thể đọc được nếu như không có các kiến thức bí mật. Trong những năm gần đây, lĩnh vực hoạt động của mật mã hóa đã được mở rộng, mật mã hóa hiện đại cung cấp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cơ chế cho nhiều hoạt động hơn là chỉ duy nhất việc giữ bí mật và có một loạt các ứng dụng như: chứng thực khóa công khai, chữ ký số, bầu cử điện tử hay tiền điện tử. Ngoài ra, những người không có nhu cầu thiết yếu đặc biệt về tính bí mật cũng sử dụng các công nghệ mã hóa, thông thường được thiết kế và tạo lập sẵn trong các cơ sở hạ tầng của công nghệ tính toán trong liên lạc viễn thông và trong an ninh máy tính và mạng.
Một hệ mật mã là một bộ 5 (P,C,K,E,D) thỏa mãn các điều kiện sau: P là một tập hợp hữu hạn các bản rõ (Plain Text), nó được gọi là không gian bản rõ C là tập hữu hạn các bản mã (Crypto), nó còn được gọi là không gian bản mã. Mỗi phần tử của C có thể nhận được bằng cách áp dụng phép mã hóa Ek lên một phần từ của P, với kK. K là tập hữu hạn các khóa hay còn gọi là không gian khóa. Đối với mỗi phần tử k của K được gọi là một khóa (Key).
Số lượng của không gian khóa phải đủ lớn để “kẻ địch” không có đủ thời gian để thử mọi khóa có thể (phương pháp vét cạn) Đối với mỗi k thuộc K có một quy tắc mã eK: P C và một quy tắc giải mã tương ứng dK D. Mỗi eK: P C và dK: C P là những hàm mà dK (eK(x)) = x với mọi bản rõ xP 1. Vai trò của hệ mật mã Các hệ mật mã phải thực hiện được các vai trò sau: Hệ mật mã phải che dấu được nội dung của bản rõ (plain text) để đảm bảo sao cho chỉ người chủ hợp pháp của thông tin mới có quyền truy cập thông tin, hay nói cách khác là chống truy nhập không đúng quyền hạn Tạo các yếu tố xác thực thông tin, đảm bảo thông tin lưu hành trong hệ thống đến người nhận hợp pháp là xác thực (Authenticity). Tổ chức các sơ đồ chữ ký điện tử, đảm bảo không có hiện tượng giả mạo, mạo danh để gửi thông tin trên mạng Ưu điểm lớn nhất của bất kỳ hệ mật mã nào là có thể đánh giá được độ phức tạp tính toán mà “kẻ địch” phải giải quyết bài toán để có thể lấy được thông tin của dữ liệu đã được mã hóa.
Tuy nhiên mỗi hệ mật mã có một số ưu và nhược điểm khác nhau, nhưng nhờ đánh giá được độ phức tạp tính toán mà ta có thể áp dụng các thuật toán mã hóa khác nhau cho từng ứng dụng cụ thể tùy theo yêu cầu về độ an toàn: Bản rõ Mã hóa Bản mã Giải mã Bản rõ Khóa Hình 1.1: Quy trình mã hóa và giải mã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại hệ mật mã Có nhiều cách để phân loại hệ mật mã đó là: Cách 1: Phân loại hệ mật mã dựa vào cách truyền khóa, theo cách phân loại này hệ mật mã có thể được chia thành hai loại như sau: Hệ mật mã khóa bí mật: là những hệ mật mã dùng chung một khóa cả trong quá trình mã hóa dữ liệu và giải mã dữ liệu. Do đó khóa phải được giữ bí mật tuyệt đối Hệ mật mã khóa công khai: các hệ này dùng một khóa để mã hóa sau đó dùng một khóa khác để giải mã, nghĩa là khóa để mã hóa và khóa để giải mã là khác nhau. Các khóa này tạo nên từng cặp chuyển đổi ngược nhau và không có khóa nào có thể suy ra được từ khóa kia.
Khóa dùng để mã hóa có thể công khai nhưng khóa dùng đẻ giải mã phải giữ bí mật.