Mở đầu -8- Chương 3: Hệ thống WebGis: Trình bày các định nghĩa về hệ thống WebGis, mô hình cấu trúc của hệ thống này. Giới thiệu các chuẩn dịch vụ chuẩn OGC, giới thiệu về Gis mã nguồn mở và Gis mã nguồn đóng, giới thiệu các phần mềm cũng như bộ thư viện mã nguồn mở sử dụng trong luận văn (GeoServer, PHP, OpenLayers, PostgreSQL) Chương 4: Xây dựng hệ thống WebGis quản lý dữ liệu địa chất trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh: Trình bày chi tiết các bước từ khâu thiết kế cơ sở dữ liệu, thiết kế trang Web đến khâu hoàn thành và chạy thử nghiệm chương trình. Chương 5: Kết luận và hướng phát triển: Chương này sẽ tổng kết lại những việc đã làm được, sau đó đưa ra những đóng góp và hướng phát triển của luận văn Chương 1: Mở đầu -9- Chương 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ DỮ LIỆU ĐỊA CHẤT TẠI TP.
HỒ CHÍ MINH 2. 1 Tổng quan địa chất tại TP. Hồ Chí Minh 2. 2 Hiện trạng quản lý địa chất tại TP.
Hồ Chí Minh 2. 3 Ứng dụng công nghệ thông tin và Gis trong quản lý dữ liệu địa chất Chương 2: Hiện trạng quản lý dữ liệu địa chất tại TP. Hồ Chí Minh -10- 2. 1 TỔNG QUAN ĐỊA CHẤT TẠI TP.
HỒ CHÍ MINH Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai hướng trầm tích Pleistocen và Holocen: 2.1 Trầm tích Pleistocen Trầm tích Pleistocen còn gọi trầm tích phù sa cổ. Trầm tích này chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng là đất xám. Đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley.
Chủ yếu phân bố trên vùng đất cao, đất gò ở huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, quận Thủ Đức, quận 9 và phía Bắc huyện Bình Chánh. Trầm tích Pleistocen có thành phần hạt thô đến hạt trung là chủ yếu, kết khối chặt. Do đó, khi xây dựng công trình trên loại đất đá tầng này, việc xử lý móng đỡ tốn kém, độ bền công trình, độ an toàn được bảo đảm, an tâm hơn.2 Trầm tích Holocen Trầm tích Holocen còn gọi trầm tích phù sa trẻ hay tầng đất yếu theo cách phân loại theo địa chất công trình. Trong phạm vi thành phố, đây là tầng địa chất nhạy cảm do đặc điểm, nguồn gốc và do thời gian thành tạo trẻ hơn, cách nay khoảng vài chục ngàn năm đến vài ngàn năm nên mức độ gắn kết đất, cát rất yếu, có nơi di tích thực vật chưa hóa than bùn hoàn toàn.
Trầm tích này chủ yếu phân bố vùng phía Nam Bình Chánh, vùng phía nam Hóc Môn, phạm vi các quận nội thành. Trầm tích Holocen ở TP. Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông, bãi bồi…hình thành nhiều loại đất khác nhau: đất phù sa, đất phèn, đất phèn mặn. Ngoài ra, còn có một phần nhỏ là “giồng” cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.
Với bản chất của tầng đất yếu, trầm tích Holocen trong phạm vi thành phố đã gặp rất nhiều sự cố (tai biến địa chất) đối với các công trình xây dựng, các đoạn bờ sông, gây nhiều thiệt hại về của cải và cả tính mạng con người. Đã có không ít tư liệu phản ánh về mức độ thiệt hại và cảnh báo trước thiệt hại, sự cố có thể xảy ra đối với các công trình kiên cố xây dựng trên nền đất yếu Holocen. Một số dẫn chứng về tai biến xảy ra trong tầng đất yếu (trầm tích Holocen) như sau: Chương 2: Hiện trạng quản lý dữ liệu địa chất tại TP. Hồ Chí Minh -11- - Đã có hàng chục lần xảy ra sụt lở gây thiêt hại nhà, đất, tài sản và cả tính mạng ở vùng đất yếu dọc bờ sông Sài Gòn vùng Thanh Đa (thuộc quận Bình Thạnh) chỉ từ 1992 đến 2002.
- Năm 2000 và 2003, đã xảy ra lún chìm 2 kho chứa sắt thép (1.200 tấn và 900 tấn mỗi kho) trên nền đết yếu xuống sâu 20m ở quận Bình Chánh và quận Bình Thạnh. [3] - Tháng 03-2009, bài báo cáo có tựa đề lớn: Sẽ mất thêm 250 đến 550 tỉ đồng để cứu đường Nguyễn Hữu Cảnh: đoạn dài 3,7km, thường xuyên ngập nước, lún 3-5cm/năm. Đây là đoạn đường bê tông hiện đại, xây dựng trên nền đất yếu (Holocen), được xử lý móng không bảo đảm, chiều dày tầng đất yếu lớn >40m. Phương án chống lún đưa ra trước mắt là lún tới đâu sẽ bù đắp nền đường tới đó.
Tuy nhiên phương án sẽ không xử lý triệt để độ lún vì lớp bùn nhão bên dưới có khả năng trôi dạt, dễ gây nứt nhà dân [4] Qua những hiện tượng sự cố nói trên cho thấy tầng Holocen (tầng đất yếu) có nhiều đặc điểm không thuận lợi để xây dựng công trình kiên cố. 2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ DỮ LIỆU ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH TẠI TP. HỒ CHÍ MINH Hiện nay, công tác lưu trữ, quản lý dữ liệu ĐCCT là trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị nhà nước. Dữ liệu ĐCCT được lưu trữ, khai thác sử dụng tại các nơi như: + Các đơn vị trực thuộc Sở Xây Dựng như Phòng Quản lý Khảo sát – Thiết Kế, công ty Kiểm định xây dựng Sài Gòn.
+ Các sở ban ngành liên quan như: Sở Quy Hoạch – Kiến Trúc, Sở Tài Nguyên – Môi Trường, Sở Giao Thông – Công Chánh, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn… + Các Ban Quản lý dự án – đầu tư xây dựng và phòng Quản lý các quận huyện + Các đơn vị chuyên ngành khảo sát của thành phố và thuộc các bộ ngành trung ương đống trên địa bàn Thành phố. + Các cá nhân là chủ nhiệm khảo sát, tư vấn, thiết kế. Riêng tại Trung Tâm Thông tin và Dịch vụ Xây Dựng trực thuộc Sở Xây Dựng TP. Hồ Chí Minh đã tổng hợp các nguồn tài liệu ĐCCT từ các đơn vị nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân khảo sát, thiết kế xây dựng.
Các báo cáo khảo sát ĐCCT Chương 2: Hiện trạng quản lý dữ liệu địa chất tại TP. Hồ Chí Minh -12- (hoặc khảo sát địa kỹ thuật) này phục vụ cho công tác thiết kế cho các công trình dân dụng, công nghiệp và xây dựng cầu đường. Tài liệu ĐCCT được lưu trữ như: Sơ đồ vị trí hố khoan, mặt cắt địa chất công trình, các bảng tổng hợp cơ lý của các lớp đất đá, các hình trụ hố khoan địa chất….Dữ liệu ĐCCT được xây dựng trên hệ quản trị cơ sở dữ liệu Oracle. Hệ thống quản lý dữ liệu ĐCCT gồm có 3 bảng: công trình khảo sát, hố khoan, lớp đất đá tổng hợp…Về bản đồ kỹ thuật số để thể hiện vị trí các công trình khảo sát địa chất được thực hiện trên phần mềm AutoCAD chưa triển khai được trên nền GIS.
Các tài liệu ĐCCT tại đây chủ yếu phục vụ trong ngành xây dựng. 3 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ GIS QUẢN LÝ DỮ LIỆU ĐỊA CHẤT. Nghiên cứu thế giới Đối với lĩnh vực địa chất, thế giới đã có những ứng dụng quan trọng như: việc ứng dụng WebGis để quản lý sạn lở đất, ứng dụng WebGis quản lý hố khoan khai thác dầu mỏ, hố khoan khoáng sản… Sau đây là một số nghiên cứu mà học viên được biết qua quá trình tìm hiểu: 1. Nghiên cứu “Phát triển một hệ thống WebGis để quản lý hố khoan và dữ liệu địa chất” của nhóm tác giả Yoon-Seop Chang, Hyeong-Dong Park vào năm 2004 tại Hàn Quốc [5], nghiên cứu cho thấy: WebGis được ứng dụng hiệu quả để quản lý hiệu quả dữ liệu hố khoan và địa chất tại khu vực thuộc thủ đô Seoul của Hàn Quốc.
Ứng dụng này cung cấp các công cụ tìm kiếm thông tin về dữ liệu địa chất, dữ liệu hố khoan, dữ liệu địa hình, dữ liệu các lớp đất đá, dữ liệu địa vật lý và thủy văn. Đây là một nghiên cứu của Viện Công Nghệ Xây Dựng Hàn Quốc (KICT). KICT phát triển một hệ thống WebGis dựa trên các dữ liệu điều tra được trên các trang web công trình xây dựng đường sắt, đường bộ, đường cao tốc ở Hàn Quốc. KICT đã chuẩn hoá số liệu hố khoan địa chất theo một tiêu chuẩn thích hợp.
Dữ liệu hố khoan bao gồm các thông tin về độ sâu, tổng số mét khoan, độ sâu khảo sát, mực nước ngầm ổn định và các thuộc tính từ thí nghiệm như bảng cơ lý, các lớp đất đá tổng hợp. Trong ứng dụng này các tác giả đã sử dụng công nghệ WebGis mã nguồn đóng: + ArcIMS ESRI(3.1) cho bản đồ và dịch vụ dữ liệu trên nền web. + Dữ liệu hố khoan được lưu vào cơ sở Oracle DBMS (8.6) Chương 2: Hiện trạng quản lý dữ liệu địa chất tại TP. Hồ Chí Minh -13- + Trang web được viết bằng ngôn ngữ ASP.net Nghiên cứu hoàn thành cung cấp các chức năng như sau: Chức năng thể hiện bản đồ: thể hiện các lớp bản đồ như hành chính, hố khoan, đường giao thông, thủy hệ.
Chức năng thao tác trên bản đồ: phóng to, thu nhỏ. Chức năng tìm kiếm thông tin: bao gồm việc tìm kiếm các thông tin về hố khoan, tìm kiếm dựa trên bản đồ. Chức năng vẽ mặt cắt địa chất công trình. Chức năng thống kê: thống kê toàn bộ số hố khoan có trên bản đồ, thống kê số hố khoan theo từng dự án, thống kê hố khoan theo từng đơn vị hành chính, thống kê và vẽ đồ thị sự thay đổi số lượng hố khoan từ năm 1990 đến năm 2003.
Chức năng quản trị: admin quản lý việc cập nhật và xóa dữ liệu hố khoan. Người dùng có thể đăng nhập vào trang web và truy cập các thông tin, người dùng có thể cập nhật thêm số liệu hố khoan mới. Như vậy, quản lý dữ liệu hố khoan ở thời gian thực sẽ tiết kiệm được chi phí và thời gian cho việc xây dựng công trình. Các công ty, đơn vị có thể tham khảo trang web này để làm tài liệu đánh giá sơ bộ vị trí hố khoan trước khi khoan khảo sát địa chất.
Ngoàn ra, nghiên cứu này là một cơ sở cung cấp thông tin cho các ứng dụng khác có liên quan như ứng dụng quản lý về môi trường, quy hoạch đô thị, thiết kế giao thông vận tải. Nghiên cứu “Kết nối kho dữ liệu địa chất quốc gia thông qua ứng dụng WebGis và có thể đọc bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau ” của nhóm tác giả A. Rapsevicius, tại các quốc gia Châu Âu vào năm 2005 [6] .