Chương 1: Tổng quan. Sự cần thiết phải nghiên cứu:. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:. Tình hình nghiên cứu trên thế giới:.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu:. Mục tiêu nghiên cứu:. Đối tượng nghiên cứu:.
Nội dung và phạm vi nghiên cứu:. Nội dung nghiên cứu:. Phạm vi nghiên cứu:. Phương pháp nghiên cứu:.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài:. 5 Chương 2: Tổng quan về giao thông ở TP. Các loại hình và số lượng tuyến xe bus hiện tại:. Lộ trình và cự ly các tuyến:.
Phân bố xe bus và khả năng kết nối với người dân:. Thời gian hoạt động các tuyến trong mạng lưới xe bus. Sản lượng vận tải hiện tại của hệ thống xe bus. Công tác quản lý điều hành xe bus.
Hiện trạng hoạt động của xe bus trên tuyến. Hiện trạng các công trình trên tuyến. Các tồn tại của hệ thống xe bus, hệ thống giao thông, cách khắc phục. Tổng kết chương 2.
17 Chương 3: Chọn xe bus siêu tụ Supercapacitor cho TP. Nguyên lý hoạt động của siêu tụ điện Supercapacitor. Các đặc điểm của siêu tụ điện. Các ứng dụng của siêu tụ điện.
Thiết kế xe bus siêu tụ điện cho TP. Tóm tắt chương 3. 33 Chương 4: Phương án bố trí, tính toán, khai thác tuyến xe bus Capabus trên tuyến số 1, Bến Thành – BX Chợ Lớn. Tổng quan về tuyến số 1.
Các chỉ tiêu khai thác tuyến capabus. Phương án cung cấp điện. Chọn động cơ điện. Phương án bố trí trạm nạp, trạm dừng, nhà chờ.
Quản lý và điều hành hệ thống Capabus. Ứng dụng công nghệ điều khiển giao thông thông minh vào điều hành hệ thống capabus. Đề xuất mô hình ITS cho hệ thống capabus tại TP. Tóm tắt chương 4.
73 Chương 5: Đánh giá hiệu quả sử dụng tuyến Capabus đề xuất. Hiệu quả vận chuyển hành khách và giải tỏa ách tắc giao thông. Đánh giá ô nhiễm môi trường. Hiệu quả sử dụng xe bus capabus của tuyến thí điểm.
So sánh xe bus CNG và capabus tại TP. Tổng hợp so sánh xe bus CNG và capabus. Phân tích SWOT về capabus của tuyến số 1. Tóm tắt chương 5.
102 Chương 6: Kết luận và đề xuất hướng phát triển. Đề xuất hướng phát triển. 104 Tài liệu tham khảo Phụ lục Trang 1 CHƢƠNG 1. Sự cần thiết phải nghiên cứu Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước cũng giống như các thành phố lớn khác trên thế giới hiện nay cũng đang nhức nhối về bài toán quy hoạch và giao thông đô thị.
Hệ thống mạng lưới giao thông thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) phân bố không đều, chất lượng đường thấp, đường dành cho giao thông thì phần lớn các tuyến đường đều hẹp chỉ khoảng 19% diện tích đường có chiều rộng trên 12 m có thể tổ chức vận chuyển bằng xe buýt thuận lợi, 35% diện tích đường có chiều rộng từ 7 m đến 12 m có thể tổ chức vận chuyển bằng xe buýt nhỏ lưu thông, còn lại 46% diện tích đường còn lại có thể dùng cho các phương tiện xe hai bánh lưu thông [1]. Theo báo cáo của trung tâm quản lý và điều hành vận tải hành khách công cộng, toàn TP. HCM hiện có 148 tuyến xe buýt với khoảng 3.096 xe buýt các loại vận chuyển 342 triệu lượt khách/năm, trung bình khoảng 939.600 hành khách/ngày đáp ứng được 7,2% nhu cầu đi lại của người dân thành phố.
Ngoài ra còn có khoảng 10.710 xe taxi và có hơn 4 triệu xe gắn máy. Bên cạnh đó, hệ thống bến bãi còn thưa thớt, số lượng và diện tích bến bãi còn ít, chỉ chiếm khoảng 0,1% diện tích đô thị [2]. Trung tâm quản lý và điều hành vận tài hành khách công cộng đặt ra chỉ tiêu là đến năm 2025, xe buýt đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu đi lại của người dân. Việc làm trước mắt là sắp xếp, xây dựng mới các tuyến xe và chọn lựa các loại hình xe buýt mới.
Hiện nay, các tuyến xe buýt phân bố chưa đồng đều. Mạng lưới xe buýt tập trung dày đặc ở 19 quận (chiếm 67% tổng cự ly các tuyến đường). Trong khi đó, các tuyến ở các huyện ngoại thành lại rất thưa thớt. Do cách phân bố trên nên tỷ lệ trùng lắp tuyến lên đến 56,6% [6].
Bên cạnh các vấn đề trên, thì hiện nay vấn đề ô nhiễm không khí trong thành phố lại rất đáng báo động, đặc biệt là xu hướng gia tăng nồng độ các chất độc hại trong không khí như benzene, ôxit nitơ, bụi, chì….Nồng độ một số chất ô nhiễm đều vượt tiêu chuẩn cho phép đối với chất lượng không khí xung quanh dân cư lẫn chất lượng Nghiên cứu ứng dụng xe bus siêu tụ điện Supercapacitor tại Tp. HCM Trang 2 không khí ven đường. Theo số liệu được chi Cục bảo vệ môi trường TP. HCM công bố tháng 4 năm 2010, kết quả quan trắc từ đầu năm 2010 cho thấy, mức độ ô nhiễm bụi tại nhiều khu vực dân cư của thành phố tăng đáng báo động, cụ thể như sau: - Bụi: 88% quan trắc không đạt quy chuẩn (theo QCVN 05:2009/BTNMT), có những thời điểm vượt QCVN lên tới 8,7 lần.
- Chì: nồng độ dao động từ 0,39 – 0,53µg/m3. Tăng từ 1,02 – 1,70 lần trên cả 6 trạm so với tháng 4 năm 2009, giảm 1,06 – 1,22 lần trên 4 trạm quan trắc so với tháng 3 năm 2010. - NO2: nồng độ dao động từ 0,14 đến 0,22 mg/m3; 35% quan chắc không đạt chuẩn (QCVN 05:2009/BTNMT) và có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước và tháng 03/2010. - Tiếng ồn: 63% số liệu quan trắc đạt quy chuẩn (TCVN 5949:1998), dao động từ 65-86dB.
[3] Để giải quyết vấn đề giao thông đô thị thì thành phố cần phải phát triển giao thông công cộng và hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân. Tuy nhiên đầy là vấn đề mang tính chiến lược và tưng bước làm cho hợp lý. Đây là yếu tố sống còn góp phần giảm kẹt xe, giảm ô nhiễm môi trường và phục vụ cho sự phát triển bền vững. Để giảm vấn đề ô nhiễm môi trường, thành phố cần phải đưa vào các loại phương tiện thân thiện với môi trường như xe buýt sử dụng CNG (hiện này thành phố đã đưa vào sử dụng 21 xe chạy bằng CNG tuyến số 1 Bến Thành – BX Chợ Lớn, Công ty TNHH Một thành viên xe khách Sài Gòn), Biofuel (biodiesel, biogas), Ethanol (hiện nay đã triển khai xăng E5, đến năm 2015 sẽ sử dụng đại trà xăng E5 trên toàn quốc)…Mở rộng và xây dựng thêm các tuyến đường mới, đường vành đai, metro, xe buýt nhanh BRT….
Theo báo cáo của phòng thống kê và đánh giá năng lượng thế giới thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Anh BP ngày 13/06/2009 thì nhiên liệu hóa thach sẽ cạn kiệt trong vòng 40 năm nữa. Trữ lượng khí đốt tự nhiên đã được thẩm định cũng tăng nhẹ và đủ đáp ứng nhu cầu trong vòng 60 năm tới. Chính vì thế, việc nghiên cứu và ứng dụng nguồn năng lượng mới trên xe buýt hiện nay là việc làm rất quan trong và cấp thiết cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố. Đề tài “Nghiên cứu ứng Nghiên cứu ứng dụng xe bus siêu tụ điện Supercapacitor tại Tp.
HCM Trang 3 dụng xe bus siêu tụ điện Supercapacitor tại TP. HCM” là một vấn đề thiết thực nhằm đa dạng hóa các loại hình giao thông công cộng, góp phần cải thiện môi trường, hạn chế sử dụng dầu mỏ, mang tính thực tiễn cao góp phần đắc lực cho việc hình thành đô thị công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Để tiện cho việc trình bày những phần sau, chúng tôi thống nhất viết tắt từ xe bus siêu tụ điện Supercapacitor là Capabus. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nƣớc 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới - Tổng Công ty Sunwin Bus (Sunwin Bus Corporation) là công ty liên doanh giữa Trung Quốc và Thụy Điển đã nghiên cứu và ứng dụng xe buýt siêu tụ điện Supercapacitor vào giao thông công cộng ở Trung Quốc và một số nước khác trên thế giới. - GS Yuri Gogotsi, Khoa Kỹ thuật cơ khí, Đại học Drexel đã có những nghiên cứu chuyên sâu về siêu tụ điện Supercapacitor và mở ra một triển vọng rất lớn trong ngành công nghệ vật liệu trong đó có ứng dụng vào giao thông công cộng trên thế giới. Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam, tính đến thời điểm này chưa có nghiên cứu nào về xe buýt siêu tụ điện Supercapacitor. Tuy nhiên cũng có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu về giao thông công cộng thành phố nhằm mục tiêu là đa dạng hóa các loại hình giao thông công cộng thành phố và phát triển bền vững của giao thông thành phố trong tương lai bao gồm: - Nghiên cứu hệ thống quản lý năng lượng và điều khiển tích hợp ô tô điện, luận văn cao học do PGS.
TS Phạm Xuân Mai hướng dẫn và đã bảo vệ thành công năm 2011, trường ĐHBK TP. - Nghiên cứu và ứng dụng hệ thống Trolleybus trên đường Nguyễn Văn Linh Quận 7, TP. HCM, luận văn cao học do TS. Trịnh Văn Chính hướng dẫn và đã bảo vệ thành công năm 2009, trường ĐHBK TP.
Nghiên cứu ứng dụng xe bus siêu tụ điện Supercapacitor tại Tp. HCM Trang 4 - Nghiên cứu xe buýt phù hợp với mạng lưới giao thông thông TP. HCM, luận văn cao học do PGS. TS Phạm Xuân Mai hướng dẫn và đã bảo vệ thành công tại trường ĐHBK TP.
- Nhóm nghiên cứu của trường ĐHBK TP. HCM với đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển mạng lưới tuyến xe buýt TP. Tuy nhiên các đề tài và công trình nghiên cứu trên chưa đề cập đến xe buýt siêu tụ điện Supercapacitor. Do đó, đề tài này kế thừa và tiếp tục đề xuất một loại hình phương tiện giao thông công cộng mới để góp phần đa dạng hóa các loại phương tiện giao thông công cộng của giao thông thành phố trong tương lai.
Mục tiêu và đối tƣợng nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu: Mụ ệc ứng dụng và tính hiệu quả kinh tế xã hội của xe buýt siêu tụ capabus so với các loại xe buýt dùng năng lượng hóa thạch và khả năng áp dụng tại TP. Đối tƣợng nghiên cứu Xe buýt siêu tụ điện capabus chạy bằng điện nhập khẩu từ Trung Quốc của công ty Sunwin, loại xe 64 chỗ (kể cả đứng và ngồi). Nội dung và phạm vi nghiên cứu.