Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm hình vị, từ, ngữ, nghĩa 1.1 Hình vị Trong ngôn ngữ học Đại cương, “hình vị” đã được xác định là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ. Cách xác định này cho thấy hai đặc điểm chính của hình vị: - Là đơn vị có nghĩa. - Không thể chia thành đơn vị có nghĩa nhỏ hơn. Như vậy, hình vị là đơn vị (hay thành tố, yếu tố) gốc, đơn vị tế bào của ngữ pháp, là đơn vị có tổ chức tối đơn giản, trực tiếp hoặc gián tiếp gắn liền với một ý nghĩa nhất định.
Đặc biệt, được chú ý là giá trị ngữ pháp của nó, với tư cách là yếu tố cấu tạo từ. Ngoài tên gọi là “hình vị” đơn vị này còn được gọi là “mooc - phem” (morpheem), “từ tố”, “nguyên vị”, “hình tố” … Hình tố và từ tố được coi là những dạng thức cụ thể của hình vị trong những hoàn cảnh nhất định với vai trò cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn nó (thường được hiểu là từ). Nguyên vị được hiểu là hình vị, được xét ở dạng tĩnh (nguyên), tức là trừu tượng khỏi các mối quan hệ mà nó đang chi phối và bị chi phối, và được xem xét như một đơn vị vốn có (tự nhiên). Ngoài ra người ta còn phân biệt “căn tố” và “phụ tố” (với các dạng khác nhau của phụ tố như: tiền tố, trung tố, hậu tố) trong cấu trúc của từ ở nhiều ngôn ngữ thuộc loại hình chắp dính và hòa kết.
Trên thực tế, các nhà ngôn ngữ học ít tranh luận về các đặc tính chung của hình vị. Tuy vậy, những dạng thức cụ thể của một hình vị trong một ngôn ngữ cụ thể là thế nào, hiểu sao về “nghĩa” của hình vị trong ngôn ngữ ấy thì lại được thảo luận rất nhiều và khá kĩ. Chẳng hạn, trong tiếng Việt đã có nhiều ý kiến tranh luận xoay quanh “khuôn vần” của từ láy tiếng Việt (ví dụ: 7 c “siếc” trong sách siếc, giáo sư giáo siếc hay “ấp” trong lấp ló, ngấp nghé,… hay “ăn” trong vuông vắn, đỏ đắn, may mắn,… có nghĩa không. Hay chính sự tổ hợp giữa “khuôn” với các thành tố (hoặc bộ phận thành tố) trước và sau nó mới là hình thức biểu đạt nghĩa….
Bên cạnh những ý kiến trên còn có những ý kiến tranh luận về bản chất các đơn vị được gọi là “tiếng” (với vai trò nhất thể ba ngôi, vừa là “âm tiết”, vừa là “từ”, vừa là hình vị ) trong tiếng Việt (và cũng có thể gặp trong tiếng Nùng). Từ những lý do đó, hình vị cũng có nhiều định nghĩa khác nhau: - “Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có nghĩa, có chức năng làm thành tố trực tiếp tạo nên từ” [11, tr. 40] - “Hình vị cũng là đơn vị có nghĩa, cũng được tái hiện như các từ, nhưng hình vị chỉ được phân xuất ra nhờ phân tích bản thân các từ, chúng không tồn tại độc lập mà nhập hẳn vào từ, không tách dời khỏi từ” [7, tr. 13] - “Hình vị là những đơn vị có nghĩa nhỏ nhất có thể kết hợp với nhau để tạo các từ” [5, tr.
8] - “Hình vị là đơn vị hình thái học không thể phân chia thành những đơn vị hình thái học nhỏ hơn, nó là yếu tố cấu tạo từ” [2, tr. 23] - “Một yếu tố có nghĩa được xác định là hình vị chỉ khi làm thành phần của từ và chỉ trong mối quan hệ với từ” [21, tr. 66] - Từ những định nghĩa trên, ta thấy “hình vị” có một số đặc điểm sau: - Là đơn vị có nghĩa nhất định, là mặt được biểu thị, nội dung; - Là đơn vị có kích thước vật chất – âm thanh nhất định, là mặt biểu thị, hình thức; - Là đơn vị có cấu trúc nội tại tương đối ổn định, vững chắc, không thể chia thành các đơn vị có nghĩa nhỏ hơn; - Là đơn vị có chức năng cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn nó, chủ yếu để cấu tạo nên từ. Trên thực tế, hình vị trong các ngôn ngữ cụ thể (với tất cả các dạng thức của nó (kể cả với tiếng Nùng), không phải là đơn vị có thể nhận thức dễ 8 c dàng.
Hình vị là kết quả của sự phân tích tổng hợp của nhà nghiên cứu, nhằm mục đích để hiểu rõ bản chất, chức năng của các đơn vị lớn hơn nó hoặc chính nó trong mối quan hệ với các đơn vị cùng loại và khác loại. Các đơn vị này thường không hiển nhiên đối với người bản ngữ. Với những đặc điểm trên, cần sự phân biệt giữa hai khái niệm: “hình vị” và “ thành tố cấu tạo nên từ”. Cụ thể là: - “Hình vị” có thể trực tiếp cấu tạo nên từ (một mình nó hoặc kết hợp với các hình vị khác) hoặc không trực tiếp cấu tạo nên từ, mà gián tiếp, bằng cách kết hợp với các hình vị khác để tạo thành một thành tố có nghĩa lớn hơn hình vị.
Thành tố này mới được dùng để trực tiếp cấu tạo nên từ. - “Thành tố cấu tạo từ” được hiểu là yếu tố bên trong từ, yếu tố hợp thành nên từ, có thể trùng hoặc không trùng khớp với hình vị. Điều đó giúp chúng ta giải thích có lôgic đối với những trường hợp các hình vị kết hợp với nhau, nhưng sản phẩm của sự kết hợp này không thể được đánh giá là từ (không tái hiện được tự do trong lời nói để tạo nên câu), mà chỉ nên xem là thành tố cấu tạo từ. Khi nói tới các đơn vị cơ bản của ngữ pháp, người ta nói tới đơn vị được gọi là hình vị.
Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ sử dụng (trực tiếp hoặc gián tiếp) cấu tạo nên từ. Là đơn vị có kích thước nhất định, có ý nghĩa nhất định, có cấu trúc nội tại tương đối ổn định, vững chắc, không thể phân tách thành các đơn vị nhỏ hơn về nghĩa. Đơn vị này có chức năng cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn nó, chủ yếu là dùng để cấu tạo nên từ …. Và có khả năng giải thích được cấu trúc ngữ pháp của đơn vị đó.
Còn từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu. Từ những cách nhìn nhận về hình vị nói trên, ta thấy có thể chấp nhận quan niệm: “Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được sử dụng (trực tiếp hoặc gián tiếp) cấu tạo nên từ”. Những đơn vị được coi là hình vị 9 c đều thỏa mãn hai đặc điểm: có nghĩa và không thể chia thành đơn vị có nghĩa nhỏ hơn. Từ Như chúng ta đã biết, từ là đơn vị cơ bản của từ vựng (từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp là ba bộ phận cấu thành của một ngôn ngữ).
Nó chính là đơn vị dùng để gọi tên các sự vật, hiện tượng, khái niệm … của thực tế, mang trong mình nó các thuộc tính tiêu biểu về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp của một ngôn ngữ. Mặc dù vậy, cho đến nay, trong ngôn ngữ học lại có rất nhiều định nghĩa về từ của các nhà nghiên cứu không giống nhau và cũng chưa có một định nghĩa nào thỏa mãn được các nhà nghiên cứu. Có tình trạng trên là bởi, khi xem xét từ, các nhà nghiên cứu đã căn cứ trên các ngôn ngữ có những điểm rất khác nhau về loại hình, về quan hệ cội nguồn … hoặc nhìn nhận dưới những khía cạnh không như nhau, từ các phương diện khác nhau. Chính vì vậy mà trong hơn 6.000 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, từ được hiện thực hóa bằng những hình thái rất đa dạng.
Đồng thời, có thể thấy cái đơn vị được hiểu là một tổ hợp âm thanh có ý nghĩa, là sự thống nhất giữa hình thức và khái niệm được hàm chứa trong hình thức ấy là đơn vị tiềm năng để cấu tạo nên câu và là sự kiện tâm lý ngôn ngữ học ấy., vừa thể hiện theo cách này, vừa thể hiện theo cách khác. Tình trạng phức tạp của việc định nghĩa từ xuất phát từ chính bản thân từ trong các ngôn ngữ.Sherba đã viết: “ Trong thực tế, từ là gì? Thiết nghĩ rằng trong các ngôn ngữ khác nhau, từ sẽ khác nhau. Do đó không có khái niệm từ nói chung” [Dẫn theo 3, tr. Cho đến nay, ngoài thực tế là việc xác định khái niệm “từ” chưa đi đến được sự nhất trí và có quá nhiều định nghĩa, lại có ý kiến cho rằng trong các ngôn ngữ chúng ta đã biết “không có khái niệm từ nói chung”.
Ngược lại có ý kiến cho rằng: “từ nói chung dẫu sao vẫn tồn tại”. Do vậy, một số nhà ngôn ngữ học đã tránh, không đưa ra lời định nghĩa chính thức hiển ngôn đối với 10 c từ, hoặc họ chỉ đưa ra những lời định nghĩa thích hợp với lĩnh vực mà mình nghiên cứu, hay trình bày nội dung của khái niệm “từ” bằng những ngôn từ chung chung, ước định. Mặc dù vậy, trên cơ sở những định nghĩa khác nhau về “từ”, có thể thấy từ có những đặc điểm đáng chú ý như sau: - Là đơn vị có kích thước nhất định về vật chất - âm thanh, là mặt biểu thị, mặt hình thức, hay còn gọi là “từ ngữ âm – âm vị học”; - Là đơn vị có ý nghĩa biểu thị các sự vật, hiện tượng … nhất định, là mặt được biểu thị, nội dung; - Là đơn vị có cấu trúc nội tại tương đối vững chắc, ổn định, có nghĩa mà không thể phân tách thành đơn vị nhỏ hơn; - Là đơn vị có chức năng khi hoạt động trong lời nói - đơn vị để kiến tạo nên câu … - Để có cơ sở cho việc nghiên cứu và khảo sát tư liệu chúng tôi chọn khái niệm về từ của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong Cơ sở ngôn ngữ học tiếng Việt: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [10, tr. Như vậy, từ có tính hoàn chỉnh cả về mặt ngữ âm và về mặt ngữ nghĩa (dù là nghĩa từ vựng hay nghĩa ngữ pháp).
Chính tính hoàn chỉnh về âm và nghĩa như vậy đã khiến cho từ được sử dụng độc lập để tạo câu.