MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài: Hệ thống điện ngày nay sử dụng điện áp cao để truyền tải điện đi xa. Các thiết bị trong hệ thống cao áp cũng thường xuyên chịu tác dụng của các dạng quá điện áp có giá trị lớn hơn điện áp định mức của hệ thống nhiều lần như quá áp cục bộ, quá điện áp khí quyễn. Vì thế cần có những nghiên cứu mô hình trong phòng thí nghiệm đề xác định các thông số và ảnh hưởng của hiện tượng trên.
Đề thí nghiệm người ta chế tạo thiết bị phát xung chuẩn của quá điện áp khí quyên hoặc quá điện áp cục bộ. Việc đo lường giá trị xung điện áp quá độ cũng không phải dễ dàng, cần phải tiến hành nghiên cứu việc xác định chính xác các thông số điện theo mục đích đo. Đối với điện áp cao, đòng điện lớn, thực hiện đo trực tiếp các thông số điện thường gặp khó khăn và tốn kém. Cho nên, trong thực tế thiết bị đo gián tiếp thường được dùng đo thông qua tín hiệu ghi nhận được từ các bộ phân áp hoặc phân dòng.
Xung điện áp sử dụng trong thử nghiệm điện áp cao thường có dạng không chu kỳ và có chu kỳ thay đổi theo thời gian, đặc biệt là dạng điện áp xung có chu kỳ tăng nhanh đến giá trị cực đại và giám dần xuống zero theo thời gian. Phần tăng nhanh đến giá trị cực đại của xung được gọi là đầu sóng và phần giảm chậm được gọi là đuôi sóng. Trong hệ thống năng lượng người ta sử dụng xung có đầu sóng gần như tuyến tính và dạng xung thao tác có độ dài đầu sóng từ vài chục đến vài ngàn micro giây như xung thao tác dao động: Bán chu kỳ đầu tiên của xung này được chọn trong khoảng thời gian 100 đến 8000 micro giây, sao cho giá trị đỉnh thứ hai lớn hơn hoặc bằng -0,2 giá trị đỉnh thứ nhất của điện áp. Việc đo biên độ của xung điện áp phóng điện cần phải thực hiện với sai số không quá 1,5%-2%.
Các yêu cầu đo xung điện áp theo IEC 60-3: giá trị biên độ của xung toàn sóng và xung cắt gần giá trị biên độ hoặc ở đuôi sóng cần phải đo với sai số không vượt quá 3%. Chính vì sự đòi hỏi độ chính xác trong đo lường xung điện áp cao nên các nhà nghiên cứu về lĩnh vực xung điện áp cao đã nghiên cứu rất nhiều phương pháp đo lường, và một trong những phương pháp đo xung điện áp cao cũng mang lại độ chính xác cao cần nghiên cứu đó là phương pháp phổ tần số hiệu dụng của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ. Việc đưa ra phổ tần số hiệu dụng của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ là cần thiết để xác định tín hiệu quá điện áp, đặc biệt là quá điện áp có chu kỳ. GVHD: Hồ Văn Nhật Chương -I- HAVTH: Truong Bao Xuyén Luận văn cao học: phổ tần số hiệu dụng của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phổ tần số hiệu dụng của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ” làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn này.
Mục đích của đề tài: - Xác định biểu thức toán học của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ: Lập mô hình toán máy phát xung quá điện áp có chu kỳ, thiết lập biểu thức họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ và điều kiện tồn tại của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ - Phố của họ dang xung quá điện áp có chu kỳ: Sử dụng phương pháp biến đổi Fourier thuận và nghịch, mô hình toán học của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ tiêu biểu, phổ tần số hiệu dụng của thiết bị đo xung quá điện áp có chu kỳ cao thế. = Nhằm giúp cho việc đo lường điện áp cao chính xác, tránh méo dạng xung, đảm bảo an toàn, tin cậy trong vận hành hệ thống điện. Điểm mới của luận văn: - Tìm được mô hình toán học của dạng xung quá điện áp có chu kỳ cao thế. - Tìm được điều kiện tồn tại của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ cao thế - Nhận được phô tần số hiệu dụng của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ cao thế.
Nhiệm vụ của luận văn: - Thiết kế máy phát xung quá điện áp có chu kỳ. - Tìm phổ của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ cao thế. - Sử dụng chương trình MATLAB để biểu diễn các đường đặc tính và phổ tần số hiệu dụng của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ cao thế. Kết quả dự kiến: Đưa ra biểu thức phổ tần số hiệu dụng của dạng xung quá điện áp có chu kỳ cao thế.
Xây dựng chương trình MATLAB khảo sát các đường đặc tính cũng như phổ tần số hiệu dụng của dạng xung quá điện áp có chu kỳ cao thế. Với kết quả nhận được có thể: - Thiết kế và chế tạo các thiết bị mẫu đo cao áp trong thực tiễn. - Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy học viên cao học. GVHD: Hồ Văn Nhật Chương -2- HIỰTH: Trương Bảo Xuyên Luận văn cao học: phổ tần số hiệu dụng của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ VI.
Một số thuật ngữ: f gh.th Sen Af tò max : Tần số góc (rad/s) : Tần số (Hz) : Tần số giới hạn của thiết bị : Tần số giới hạn của giới hạn vào : Dải thông của thiết bị đo : Điện dung trong máy phát xung : Điện dung thí nghiệm trong máy phát xung : Điện trở (rò) của bộ phân áp kiểu dung : Điện dung đọc của bộ phân áp kiểu dung : Điện cảm ký sinh của bộ phân áp kiểu dung : Toán tử : Điện dung của phan tử n : Giá trị cực đại của () : Độ đài thời gian đầu sóng : Độ dài xung : Thời gian truyền xung : Thời gian tăng của xung điện áp đo : Hệ số : Hệ số phân áp : Thời gian truyền : Đặc tính biên độ-tần số : Đặc tính pha-tần số : Ảnh Laplace của hàm f(r) |F (jo) = F(o): Phé bién độ-tần số tuyệt đối F,(o) : Phổ biên độ-tần số tương đối, ;(ø)= GVHD: Hồ Văn Nhật Chương -3- HAVTH: Truong Bao Xuyén Luận văn cao học: phổ tần số hiệu dụng của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ CHƯƠNG I: ¬ - „ - CAC DANG XUNG DIEN ÁP CHUAN TRONG THI NGHIEM THIET BI DIEN Trong chuong I này sẽ trình bày lý thuyết về các dạng xung điện áp chuẩn trong thi nghiệm thiết bị điện, từ đó làm cơ sở cho việc tìm ra dạng xung điện áp có chu kỳ. Phóng điện chọc thủng và phóng điện bề mặt trên cách điện của thiết bị điện là những quá trình phụ thuộc vào một loạt các biến cố ngẫu nhiên. Ngay cả khi các điều kiện: vị trí của các thiết bị thí nghiệm, dạng sóng và cực tính của điện áp tác động, tình trạng của môi trường xung quanh,. Không thay đôi cũng cho những giá trị điện áp phóng điện khác nhau trên cách điện của thiết bị.
Do đó, điện áp phóng điện và phóng điện mặt có đặc tính ngẫu nhiên và muốn nghiên cứu chúng phải sử dụng các phương pháp thống kê, đặc biệt là trong lĩnh vực thử nghiệm điện áp xung. Xung điện áp sử dụng trong thử nghiệm điện áp cao thường có dạng chu kỳ hoặc không chu kỳ thay đổi theo thời gian. Vi dụ dạng điện áp có tính chất là tăng rất nhanh đến giá trị cực đại và sau đó giảm chậm hơn đến zero. Phần tăng nhanh đến giá trị cực đại của xung được gọi là đầu sóng và phần giảm chậm được gọi là đuôi sóng.
Đối với những trường hợp đặc biệt, người ta sử dụng những xung có đầu sóng gần như tuyến tính hoặc những xung có dạng dao động hay dạng bước nhảy. Trong hệ thống năng lượng, người ta sử dụng các dạng xung sét và dạng xung thao tác. Những xung này có độ dài đầu sóng từ vài phần micro giây đến vài chục micro giây đối với xung sét và từ vài chục đến vài ngàn micro giây đối với xung thao tác. Xung sét chuẩn có độ dài đầu sóng 7„ =1,2/, độ dài xung 7, =50/ và được ký hiệu 1/2/50s (Tiêu chuẩn GOST và Tiêu chuẩn IEC), dạng xung chuẩn này được vẽ trong Hình 1.
Cho phép chấp nhận xung chuẩn với những dao động xếp chồng lên nó có “độ vọt lố” không vượt quá 5% so với giá trị cực đại và chu kỳ của dao động xếp chồng không vượt quá 2 micro giây. Xung thao tác chuẩn có có chu kỳ có chiều dài đầu sóng 7„ = 250/s và độ dài xung 7, =2500,s (hình 2). GVHD: Hồ Văn Nhật Chương -4- HAVTH: Truong Bao Xuyén Luận văn cao học: phổ tần số hiệu dụng của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ Độ dài đầu sóng Tạ; = 1,2 + 0,36 us Độ dải sóng T; = 50 + 10 us “4, =1,677 Hình I.1: Xung sét chuẩn { i 0 Ora | i "s Thời gian đầu sóng Tạ, = 250 + 50us Độ đải sóng T; = 2500 + 1500is Hình I.2: Xung thao tác chuẩn có chu kỳ Xung thao tác dao động: Thỉnh thoảng người ta cũng sử dụng dạng sóng thao tác dao động trong một số trường hợp thử nghiệm thiết bị điện. Bán chu kỳ đầu tiên của xung này được đề nghị chọn trong khoảng thời gian 100 đến 8000 micro giây, đồng thời sao cho giá trị đỉnh thứ hai (Ở bán kỳ thứ hai) có giá trị đỉnh lớn hơn hoặc bằng -0,2 và có độ dài đầu sóng 7„ = 4000+ 1000, độ dài sóng 7, =7500+2500/s (Hình 3).
Luận văn cao học: phổ tần số hiệu dụng của họ dạng xung quá điện áp có chu kỳ ˆ ——T b) Hình I.3: Xung thao tác dao động Xung điện áp có đầu sóng tuyến tính: Dạng điện áp có đầu sóng tăng đều cho đến thời điểm cắt do phóng điện hoàn toàn của nó. Để xác định các thông số của dạng xung như thế, người ta vẽ một đường thẳng qua hai điểm A, B. Đây là các giao điểm của xung điện áp tại đầu sóng của nó với các đường thắng nằm ngang có tung độ tương ứng là 50% và 90% điện áp ứng với thời điểm cắt, nằm giữa hai đường thẳng song song với đường thắng AB và cách xa nó một khoảng thời gian bằng 0,05 thời gian cắt 7, (0,057,) (Hình 4). Thời gian cắt 7, đối với xung tuyến tính ở đầu sóng được xác định là thời gian vượt quá 2,5 lần khoảng thời gian 7 giữa các điểm A và B.