Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRỮ TÌNH VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ CỦA ĐINH THỊ THU VÂN 1. Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình 1. Khái niệm thế giới nghệ thuật Khái niệm thế giới nghệ thuật xuất hiện từ yêu cầu muốn tiếp cận tác phẩm văn học trong dạng chỉnh thể. Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra.
Một mặt nó phản ánh hiện thực, mặt khác nó biểu hiện những khát vọng chân - thiện - mĩ của chủ thể sáng tạo. Với ý nghĩa này, vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệm về thế giới nghệ thuật thật bao quát, thật đầy đủ để làm cơ sở cho việc tiếp cận các hiện tượng và tác giả văn học. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng: sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy.
Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan, văn hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ [13]. Lí luận văn học tập 2 (Trần Đình Sử Chủ biên) khẳng định: Gọi bằng thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại, vừa có sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong của nhà văn. Thế giới này chỉ có trong tác phẩm và trong 10 tưởng tượng nghệ thuật… Nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ thuật vừa cho ta hiểu hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái thế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật [35]. Theo Nguyễn Đăng Mạnh: “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là chỉnh thể tất phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật” [22].
Tham khảo những định nghĩa trên, chúng tôi có thể hiểu về khái niệm thế giới nghệ thuật như sau: Thế giới nghệ thuật là thế giới hình tượng được sáng tạo, xây dựng nên trong tác phẩm nghệ thuật theo những nguyên tắc tư tưởng - thẩm mĩ nhất định của người nghệ sĩ. Đó là một chỉnh thể nghệ thuật sống động, cảm tính, được xây cất bằng vật liệu ngôn từ và các phương thức, phượng tiện nghệ thuật đặc thù. Là đứa con tinh thần của nghệ sĩ, thế giới nghệ thuật luôn hàm chứa và thể hiện quan niệm riêng của người nghệ sĩ về thế giới, con người và bản thân sự sáng tạo. Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một thế giới động, phản ánh những biến chuyển tinh vi và phức tạp trong tư tưởng của người nghệ sĩ.
Là một khái niệm rộng bao gồm nhiều yếu tố nên việc tìm hiểu kĩ trong dung lượng luận văn cao học là rất khó. Vì thế, trong chương này chúng tôi chỉ trình bày khái quát các vấn đề của khái niệm thế giới nghệ thuật. Trên cơ sở đó tập trung làm rõ một số vấn đề như: tính chủ quan, tính thể loại trong thế giới nghệ thuật thơ trữ tình. Từ đó, chúng tôi sẽ vận dụng vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Đinh Thị Thu Vân.
Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ trữ tình (tiếng Pháp: poesie 11 lyrique) là thuật ngữ dùng chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình”. Trong đó, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp. Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình. Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học [13].
Lê Quang Hưng trong Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước 1945 cho rằng: Thế giới nghệ thuật trong thi ca là thế giới được nghệ sĩ sáng tạo ra bằng phương tiện ngôn từ. Nó chưa từng tồn tại trong thế giới vật chất và mãi mãi không bao giờ có thể biến thành thực tại vật chất. Nhưng nó lại mang sự sống và tâm hồn chân thực của một người, một thế hệ, một thời… Nói theo ngôn ngữ của lý luận quen thuộc thì nó vừa phản ánh “hiện thực”, vừa phản ánh “ý thức chủ quan” của người nghệ sĩ [16]. Thơ trữ tình là sự bộc lộ cái chủ quan, là sự biểu hiện và cảm thụ của chủ thể trữ tình trong một không gian, thời gian nhất định.
Vì thế, thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình thể hiện rõ qua hai hình tượng: hình tượng cái tôi và hình tượng thế giới. Cái tôi là hình tượng trung tâm của thơ trữ tình, mang vẻ đẹp độc đáo không lặp lại. Hình tượng thế giới tồn tại trong thơ trữ tình với vai trò là khách thể để chủ thể - cái tôi trữ tình thể hiện mình. Tất nhiên, hình tượng thế giới (cũng như hình tượng cái tôi nói trên) thực chất đều là hình tượng nghệ thuật, chúng được xây dựng, thể hiện theo những nguyên tắc thẩm mĩ riêng của nhà thơ.
Hành trình sáng tạo thơ của Đinh Thị Thu Vân 1. Vài nét về tiểu sử Đinh Thị Thu Vân vừa là bút danh vừa là tên thật, sinh ngày 23-8-1955, quê quán ở xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, xuất thân trong một gia đình trung nông. Cô là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của đồng bằng sông Cửu Long. Tốt nghiệp đại học ngành Sư phạm Ngữ văn nhưng không theo nghề dạy học.
Sau khi ra trường cô trở về phục vụ cho quê hương bên ngành thư viện. Sau đó, cô chuyển về tòa soạn báo Long An công tác. Lúc đầu làm phóng viên đi viết tin văn nghệ, viết bài kí, văn xuôi, như cô đã từng nói đó là “đụng đâu viết đó”. Sau này chuyển qua Biên tập thơ rồi làm Thư kí tòa soạn, sau đó làm Tổng Biên tập Tạp chí Văn Nghệ Long An.
Hiện nay cô là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban Liên lạc Hội Nhà văn Việt Nam tại đồng bằng sông Cửu Long và vẫn đang sinh sống, công tác tại Long An. Về đời sống riêng tư Thu Vân có chồng nhưng đã ly hôn và có hai đứa con, một trai và một gái. Đến nay cô đã xuất bản được bốn tập thơ như bốn dấu ấn khác nhau trong cuộc đời nghệ thuật của mình. Đó là thay cho lời hát ru anh (1980); một ngày ta ngoái lại (2005); đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ (2015) và Email xanh (2016).
Đinh Thị Thu Vân đạt được những giải thưởng nhất định trong sự nghiệp văn chương của mình. Theo thông tin in trên trang bìa của tập thơ đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ [43], Thu Vân đạt các giải thưởng là Giải C Tuần báo văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam năm 1979; Tặng thưởng thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1982, 1986; Tặng thưởng 5 năm văn học Bộ Quốc phòng 1984 – 1989. Nhìn lại chặng đường hoạt động nghệ thuật ta thấy Đinh Thị Thu Vân sáng tác không nhiều nhưng tất cả những gì cô mang đến đều để lại ấn tượng đặc biệt trong lòng độc giả. Trong một lần trò chuyện với cô, tác giả đã tự 13 đánh giá về mình rằng: “Viết không nhiều, viết ít, có một quãng không viết vì cô sợ mảng thơ có bao nhiêu đó ý tứ, sợ lặp lại, sợ trùng nên không viết một thời gian”.
Đề tài của cô cũng quanh quanh, quẩn quẩn chứ không lớn lao. Cô viết không nhiều và đọc cũng không nhiều. Cô tự nhận là mình “hơi hẫng” về kiến thức văn học. Những người viết họ rành văn học lắm, Đông Tây kim cổ, cô có đọc gì đâu.
Tánh cô thì “tơ lơ mơ, hơi lơ ngơ trong cuộc đời”. Là một thi sĩ nhuốm màu tình ái nhưng thật tiếc khi nói về con đường tình của mình, cô nói: “Yêu đương thì thất bại, tình cảm riêng tư thì thất bại”. Có lẽ cuộc đời truân chuyên, tình yêu dang dở… tất cả đã thấm vào hồn thơ của Thu Vân như một định mệnh. Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Đinh Thị Thu Vân rất mê làm thơ.
Thơ đến với cô tình cờ nhưng mỗi vần thơ cô viết đều chất chứa những xúc cảm mãnh liệt trong sâu thẳm con người cô. Thu Vân là một người thẳng thắn, dễ thương. Chính vì vậy, trong nhiều cuộc nói chuyện, người đọc khó bắt gặp những lời phát biểu “đao to búa lớn”, đặc biệt là những lời “chấn động” về nghề. Trong những bài phỏng vấn, ta thấy rải rác đâu đó những suy nghĩ của cô về nghiệp cầm bút.
Nó không phải là “tuyên ngôn” mà chỉ là những chia sẻ chân tình, mộc mạc. Qua đó, đọc giả cũng phần nào thấu hiểu thế giới nghệ thuật trong thơ của cô. Để bảo vệ sự nhạy cảm của mình vì quá yếu đuối, dễ suy sụp nên cô chọn cách “trốn” trước đám đông. Cao Thoại Châu trong Đinh Thị Thu Vân những điều không hỏi thì chẳng bao giờ nói đã phỏng vấn cô: Cao Thoại Châu: Tôi có thắc mắc là nhà thơ không thoải mái trước đám đông.
Đấy là một phụ nữ chân thật hay là một cách bảo vệ nỗi cô đơn và tôi chưa biết nó có là một tổn thương hay niềm tự hào của người làm thơ (vì nó mà mới có được những bài hay)? Chẳng hạn “Em vẫn yêu những khoảnh khắc bình yên/ Yêu tất cả những niềm vui 14 bé nhỏ/ Hơn thế nữa, em yêu ngày sóng gió/ Xác xơ lòng, tàn phế giấc mơ đêm” thì ta nên tránh cái ồn ào là đúng. Đinh Thị Thu Vân: Nói rõ hơn là tôi bảo vệ sự nhạy cảm của tôi – mình hiểu mình quá, thương mình quá, dễ suy sụp quá, nên tốt hơn hết là… trốn. Tôi yếu đuối, không son không phấn, không ngải không bùa, không đường không mật… rõ ràng không giống ai làm sao mà không “trốn” vào chính mình cho được?