CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHĂM SÓC Y TẾ & ĐỜI SỐNG NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1. Tình hình chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi trên thế giới 1. Tình hình chăm sóc y tế & đời sống NCT ở một số nước trên thế giới 1. Đức Người cao tuổi tích cực và độc lập Tại Đức khoảng một phần tư dân số trên 60 tuổi.
Vì tỷ lệ sinh thấp trong một thời gian dài và đồng thời tuổi thọ trung bình cũng tăng nên Đức là nước có tỷ lệ người cao tuổi đứng thứ ba thế giới sau Nhật Bản và Italia. Hình thức sống và phong cách sống của họ cũng đã thay đổi nhiều và đa dạng hơn trong những thập niên qua. Đa số NCT ngày nay sống độc lập. Họ tích cực tham gia hoạt động xã hội, duy trì quan hệ với con cái và họ hàng và đa số vẫn đủ sức khỏe để tiếp tục một cuộc sống tự chủ và tự kiến tạo thời gian của mình.
Về tài chính cuộc sống của những người cao tuổi được bảo đảm một cách chu đáo. Cuộc cải cách lương hưu năm 1957 đã dần dần tạo điều kiện cho người về hưu được hưởng sự phồn vinh. Tuy chưa hoàn toàn loại bỏ được tình trạng nghèo khổ trong những người cao tuổi, nhưng nguy cơ nghèo hóa trong họ thấp hơn so với những người ở độ tuổi khác trong xã hội. Tuy hình thức sống tam đại đồng đường dưới một mái nhà rất hiếm khi xảy ra, nhưng giữa con cái trưởng thành và cha mẹ, giữa ông bà và cháu vẫn thường xuyên có mối quan hệ tình cảm mạnh mẽ.
Một dự án mẫu của Chính phủ liên bang muốn tiếp tục tăng cường và củng cố sự gắn kết giữa các thế hệ. Theo đó cho đến nay gần như mỗi một huyện và một thị trấn ở Đức đều xây dựng được một ngôi nhà có nhiều thế hệ. Trên toàn liên bang có 15.000 người tích cực tham gia hoạt động trong 500 ngôi nhà được tài trợ xây dựng như vậy. Những ngôi nhà đó là đầu mối, là mạng lưới và là trung tâm tư vấn các vấn đề gia đình, hỗ trợ sức khỏe, phòng tránh khủng hoảng gia đình và lập kế hoạch trợ giúp.
Trên thế giới, Đức thuộc số những nước có hệ thống chăm sóc y tế tốt nhất. 6 Một mạng lưới bệnh viện, phòng khám bệnh và cơ sở y tế rộng khắp bảo đảm mọi người đều được chăm sóc y tế. Với hơn bốn triệu nhân công, ngành y tế cũng là ngành tạo nhiều việc làm nhất nước Đức. 10,4 % GDP được chi cho y tế, nhiều hơn 1,5 % so với mức trung bình của các nước OECD.
Mô hình bảo hiểm chăm sóc dài hạn ở Đức Mô hình bảo hiểm chăm sóc dài hạn ở Cộng hòa liên bang Đức được thành lập vào năm 1995 và là trụ cột thứ 5 trong hệ thống bảo hiểm xã hội của Đức. Đây là chính sách bảo hiểm bắt buộc đối với người lao động và bao trùm lên toàn bộ người dân – những người cần được trợ giúp như người cao tuổi, người khuyết tật. Theo Bộ Y tế liên bang năm 2013, 28,8% số người trong độ tuổi từ 80 cần đến trợ giúp từ loại hình dịch vụ này; 4,2% những người trong độ tuổi từ 60-80 có nguy cơ cần đến trợ giúp này và con số này ở nhóm người dưới 60 tuổi là thấp nhất với 0,7%. Như vậy, nhóm người cần nhận đươc sự trợ giúp này là nhóm người già trong xã hội.
Theo số liệu thống kê, tính đến 2013 có hơn 2,55 triệu người ở Đức được bao phủ bởi quỹ bảo hiểm chăm sóc dài hạn. Trong đó, khoảng 0,77 triệu trong số này sống tại các bệnh xá, nhà an dưỡng với 12.400 viện dưỡng lão và khoảng 661.000 nhân viên chăm sóc; khoảng 1,77 triệu còn lại được chăm sóc tại nhà bởi người thân, hàng xóm, tình nguyện viên hoặc các nhân viên chăm sóc (trong đó khoảng 576.000 người sử dụng dịch vụ chăm sóc tại nhà với khoảng 12.300 tổ chức dịch vụ chăm sóc tại nhà và 291.000 nhân viên chăm sóc). Các mức độ chăm sóc: Mức 0: Nếu người bệnh có chứng mất trí liên quan đến mất khả năng, khuyết tật và các hoạt động hàng ngày của họ có một vài khó khăn ngay cả khi sự chăm sóc cơ bản và nhu cầu giúp đỡ tại nhà không đủ tiêu chuẩn ở mức I thì họ vẫn có thể nhận được sự chăm sóc. Mức I: Mức độ “cân nhắc” cần được chăm sóc (Considerable need of care): Việc cân nhắc nhu cầu chăm sóc diễn ra khi người đó cần sự giúp đỡ ít nhất 1 giờ/ ngày với ít nhất 2 hoạt động từ 1 hoặc nhiều loại hoạt động (vệ sinh cá nhân, ăn uống hoặc đi lại).
Người đó cũng cần được giúp đỡ trong một vài giờ/ tuần với việc nhà. Họ cần trung bình 90 phút giúp đỡ hàng ngày cho hoạt động chăm sóc cơ bản 7 và việc nhà. Người chăm sóc của họ phải cần nhiều hơn 45 phút để thực hiện các nhu cầu trên. Mức II: Mức độ cần được chăm sóc (Severe need of care): Mức độ cần được chăm sóc diễn ra khi người đó cần sự giúp đỡ ít nhất 3 lần/ ngày với những chăm sóc cơ bản (vệ sinh cá nhân, ăn uống và đi lại).
Hơn nữa, họ cần một khoảng thời gian giúp đỡ/ tuần với việc nhà. Họ cần trung bình ít nhất 3 giờ giúp đỡ hàng ngày của tuần cho chăm sóc cơ bản và việc nhà. Người chăm sóc cần ít nhất 2 giờ cho các hoạt động chăm sóc cơ bản này. Mức III: Mức cần được chăm sóc cao nhất (Extreme need of care): Mức này diễn ra khi người bệnh cần sự giúp đỡ suốt ngày đêm (hàng ngày).
Họ cũng cần một vài thời gian giúp đỡ/ tuần cho việc nhà. Họ cần trung bình ít nhất 5 giờ giúp đỡ hàng ngày cho các chăm sóc cơ bản (vệ sinh cá nhân, ăn uống và đi lại) và việc nhà. Người chăm sóc cần ít nhất 4 giờ cho việc thực hiện các công việc này. Trường hợp đặc biệt (hardship cases): Họ cần ít nhất 6 giờ giúp đỡ hàng ngày, tối thiểu 3 giờ ban đêm.
Nếu họ sống trong căn hộ cần chăm sóc toàn thời gian, thời gian để chăm sóc có thể phải phải cân nhắc đến vấn đề tài chính. Các hình thức chăm sóc : Mô hình chăm sóc tại nhà: Phúc lợi của chăm sóc dài hạn được chấp nhận dựa trên mức độ cần được chăm sóc của họ và xem xét việc chăm sóc tại nhà hay tại cơ sở chăm sóc sức khỏe. “Người cung cấp” chính của việc chăm sóc dài hạn luôn luôn là gia đình họ. Đây là những điều tốt bởi hầu hết những người cần được chăm sóc dài hạn muốn sống với gia đình họ và họ quen thuộc với những gì xung quanh.
Do đó, chăm sóc tại nhà phải được ưu tiên hơn là chăm sóc tại các trung tâm. Quy định pháp luật vì thế cũng tập trung vào việc hỗ trợ để cải thiện điều kiện cho việc chăm sóc tại nhà và chia sẻ gánh nặng với những người chăm sóc. Lợi ích chăm sóc tại nhà được cân nhắc thông qua mức độ cần được chăm sóc. Những người thuộc diện chăm sóc dài hạn có thể lựa chọn giữa việc nhận được gói chăm sóc bằng vật chất và gói hỗ trợ bằng tiền.
Trong trường hợp không thể tiến hành chăm sóc tại nhà hoặc nếu cần đến các yếu tố bổ xung cho việc chăm sóc tại nhà, họ có thể nhận được những sự chăm sóc bán thời gian tại cơ sở chăm sóc sức khỏe trong khả năng 8 cung cấp dịch vụ chăm sóc ban ngày và ban đêm. Nếu điều đó không đủ để đảm bảo nhu cầu của họ, họ cũng có thể tham gia vào một điều kiện chăm sóc ngắn hạn. Trong trường hợp đó, bảo hiểm chăm sóc dài hạn sẽ bảo đảm xác định chi phí của dịch vụ chăm sóc cơ bản, dịch vụ xã hội và trị liệu trong thời gian chăm sóc ban ngày và ban đêm. Chăm sóc tại cơ sở chăm sóc sức khỏe: Nếu người bệnh yêu cầu được chăm sóc tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe, Bảo hiểm chăm sóc dài hạn sẽ chi trả cho khoản chi phí chăm sóc cơ bản, hỗ trợ xã hội và trị liệu theo như mức mà người bệnh cần được chăm sóc.
Mức chỉ trả này tăng dần theo cấp độ cần được chăm sóc của người bệnh. Mức chi trả bảo hiểm chăm sóc dài hạn không thể vượt quá 75% chi phí phải trả cho các bệnh xá, viện dưỡng lão. Ngoài ra, cũng giống như chăm sóc tại nhà, người được chăm sóc có trách nhiệm chi trả cho chi phí ăn ở của họ tại các cơ sở chăm sóc. Nếu cá nhân người cao tuổi không thể chi trả các khoản này thì con cái họ được yêu cầu để chi trả.
Trong trường hợp con cái họ cũng không thể thanh toán khoản chi phí này thì Quỹ an sinh xã hội được yêu cầu chi trả cho các chi phí. Mức chi phí mà người bệnh phải trả ít nhất 25% cho các chi phí ở bệnh xá. Australia An sinh xã hội hào phóng Hiện nay, tuổi thọ trung bình của người dân Australia là 82 tuổi, cao hơn 2 tuổi so với mức trung bình của các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Trong chăm sóc sức khỏe, tất cả mọi người dân Australia đều được cấp một tấm thẻ, gọi là MEDICARE (trợ cấp y tế toàn dân bằng thuế).
Thẻ này được cấp cho mỗi gia đình hoặc cho từng cá nhân riêng lẻ. Khi bị bệnh chỉ cần đưa thẻ Medicare là được bác sĩ gia đình khám bệnh miễn phí. Những NCT nghỉ hưu hoặc có thu nhập thấp sẽ được cấp một thẻ mua thuốc giảm giá. Với những món thuốc được trợ giá, người có thẻ giảm giá chỉ phải trả 5,90 AUD cho mỗi món thuốc, cho dù giá thực của nó có thể lên đến từ vài chục hay vài trăm AUD.
Số tiền chênh lệch sẽ được Chính phủ bồi hoàn cho tiệm thuốc sau. Nếu phải nằm bệnh viện (công lập) 9 thì tất cả mọi chi phí khám bệnh, xét nghiệm, điều trị… đều được miễn cho tất cả mọi người. Những người không kiếm được việc làm hay đang có việc làm mà bị nghỉ việc thì sẽ được lĩnh tiền phụ cấp an sinh (chừng 300 AUD mỗi tuần cho mỗi người lớn cùng gia đình). Tiền phụ cấp này sẽ bị cắt một khi đã tìm được việc làm, tuy nhiên, nếu chưa có việc làm thì vẫn được lĩnh tiếp cho đến tuổi về hưu (sẽ chuyển qua lĩnh tiền hưu, tiền hưu cao hơn tiền thất nghiệp).