CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VE QUAN TRI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động của Ngân hàng Thương Mại (NHTM) trong nền kinh tế thị trường.1 Khái nigém NHTM “ NHTM là một tổ chức kinh doanh tiên tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng một khối lượng tiền tệ dé cho vay và đâu tư, thực hiện các dịch vụ ngân hàng” (15, trang 10). Trước đây ngân hàng thường được đánh giá như một tổ chức thực hiện quá trình phân phối thuần tuý với vai trò thiên về quản lý. Song thực tế ngân hàng là sản pham tất yếu của nền kinh tế thị trường (KTTT). Tuy ra đời muộn song đã nhanh chóng giữ vị trí tiên phong, chủ chốt đối với quá trình phát trién của sản xuất và lưu thông hàng hoá, đặc biệt điều đó thé hiện rõ nét hơn trong cơ chế thị trường.
Ngày nay Ngân hàng đã được nhìn nhận và đánh giá đúng đắn hơn thông qua 2 hoạt động chủ yếu là: - Quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng bằng những chính sách ban hành: lưu thông tiền tệ, quản lý tiền mặt, ngoại hối, các chính sách tín dụng, chính sách lãi suất. - Hoạt động kinh doanh thông qua nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng. 10 Từ hai hoạt động cơ bản trên, đã hình thành nên hai hệ thống Ngân hàng: Ngân hàng nhà nước (NHNN) và NHTM. Sự đổi mới trong việc tổ chức và hoạt động của Ngân hàng là phù hợp với thực tế khách quan: một mặt tạo ra sự quản lý chặt ché của Nhà nước đối với hoạt động tiền tệ để xây dựng một nền tiền tệ ôn định và thực hiện tích luỹ cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước, mặt khác tạo điều kiện phát huy cao độ vai trò đặc biệt của Ngân hàng dé phuc vu cho san xuất kinh doanh.
Thực tế cho thấy rằng trong một nên kinh tế hiện đại, bat cứ một sự đầu tư nào muốn đảm bảo chắc chắn va đem lại hiệu quả kinh tế cao cũng đều cần có sự đảm bảo của NHTM. Như vậy sự ra đời của NHTM là một tất yêu khách quan đối với nền KTTT.2 Các chức năng chủ yéu cia NHTM 1.1 Tạo tiên Một trong những chức năng chủ yếu của NHTM là tạo tiền và huỷ tiền. Chức năng tạo tiền xuất phát từ chính nhu cầu bên trong của mỗi NHTM riêng lẻ và sự tăng trưởng của toàn hệ thống, thông qua các hoạt động tín dụng, đầu tư và thanh toán. Trong mỗi ngân hàng riêng lẻ, khả năng tạo tiền chỉ đạt từ trên một lần đến giữa hai lần tuỳ theo tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Mỗi khoản tiền gửi của khách hàng gửi vào ngân hàng, được ngân hàng lưu giữ tại quỹ nghiệp vụ của ngân hàng, đồng thời phản ánh trên tài khoản của khách hàng. Sau đó khách hàng trích tài khoản thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt. Thông qua các bút toán này, dùng “tiền ghi số” và thanh toán chuyền khoản, dé tạo ra một khoản tiền mới. Đối với toàn hệ thống NHTM thì bội số tạo tiền rất lớn.
Một khoản tiền mặt gửi vào ban đầu của khách hàng là U1, NHTM đầu tiên này dé lại dự trữ 10% chang hạn. Còn lại số tiền U2 bằng 90% (tức 9/10) số tiền U1 đem cho vay hoặc thực hiện các bút toán thanh toán. Đến ngân 11 hàng tiếp theo nhận được các giấy tờ thanh toán hoặc cho vay là U3 bằng 90% U2 nói trên. Cứ thế, hệ thống NHTM đã tạo ra một bội số tiền tệ bang tat cả U1,U2,U3,.,Un so với khoản tiền gửi U1 ban đầu.
Tuy nhiên khi chuyển dịch như vậy, chúng cũng có giới hạn nhất định, tức là khi n tiến tới vô cùng thì khoản tiền Un cũng tiến tới không(0). Tổng số tiền mà hệ thong NHTM tao ra đã là một con số rất lớn, tính theo công thức của một cấp số nhân lùi vô hạn ta có: Šn= UI +U2 +.+ Un = UI(I- g⁄(1- q) (1) Khi n—> œ, giả sử q = 10% = 1/10, tức q<1 thiq'" — 0 U1 Công thức (1) trở thành Sn = ——— I-q U1 Sn = 9 io 10 Rõ ràng, nếu dự trữ cua mỗi ngân hang là 10% số tiền gửi mới, thi toàn bộ hệ thống NHTM đã tạo ra một khoản tiền gấp 10 lần khoản tiền gửi ban đầu. Chức năng tạo tiền làm cho các NHTM có khả năng day nền kinh tế phát triển quá nóng và ngược lại, huỷ tiền gây thiểu phát, gây khó khăn cho tăng trưởng kinh tế. Chức năng tạo tiền có liên quan đến tông khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế phù hợp với chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Vì vậy các nhà khoa học coi chức năng này là chức năng số một của NHTM.2 Thanh toán 12 Sự vận động vốn trong phạm vi toàn quốc và phạm vi toàn cầu đồi hỏi phải có sự thống nhất và quốc tế hoá cao độ giữa chức năng thước đo giá trị, chức năng phương tiện lưu thông trong nền KTTT hiện đại. Vì vậy phát huy chức năng thanh toán của NHTM có liên quan đến việc cung ứng tổng khối lượng thanh toán cho toàn xã hội, một tác nhân của tăng trưởng kinh tế. Chức năng thanh toán là chức năng cô truyền của NHTM. Ngày nay những sản pham hiện đại của nó là những tam các điện tử, những tam mica thay cho vàng bạc châu báu, thay cho tiền tệ, là do sự phát triển của chức năng này.3 Tín dụng Phạm trù tín dung trở thành chức năng của NHTM ngay từ thuở ngân hàng chào đời.
Tín dụng theo nghĩa đơn giản là cho vay. Các nhà khoa học kinh tế đã coi ngân hàng là một ngành công nghiệp, thì việc cung ứng tín dụng được coi như việc thực hiện một trong các “sản phẩm” chủ yếu, một “sản phẩm gián tiếp”. Sản phẩm này đem ra tiêu dùng sẽ tạo ra việc làm, tao ra sản phẩm xã hội do khai thác tài nguyên. Trong nền KTTT, đại bộ phận quỹ cho vay tập trung qua ngân hàng và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các doanh nghiệp và cá nhân.
Tin dụng ngân hàng không những chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn dé bổ sung vốn lưu động cho các doang nghiệp và cá nhân mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản, đôi mới cải tiễn kỹ thuật công nghệ sản suất. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn đáp ứng một phan đáng ké nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Như vậy, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế rất linh hoạt và kịp thời.4 Cung ứng các dịch vụ Ngân hàng 13 Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang có tác động sâu rộng tới tất cả các lĩnh vực thì trào lưu hội nhập vào những xu thế của nền kinh tế thế giới là tất yếu. Với tư cách là một định chế tái chính đặc biệt, hệ thong ngân hang trong thời gian qua đã không ngừng đổi mới dé tiệm cận những tiêu chuẩn quốc tế.
Một trong những tiêu chuẩn đó chính là khả năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng tới người dân. Quá trình cung ứng dịch vụ được đây mạnh sẽ làm giảm xu thế dùng tiền mặt trong các quan hệ hằng ngày hay trong các giao dịch kinh tế. Điều đó cũng giúp cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng thay đổi theo hướng tích cực, giảm dần tỉ trọng đóng góp của tín dụng có tính rủi ro cao. NHTM cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp và cá nhân những loại dịch vụ thông thường và thanh toán chuyền tiền uỷ thác, tư van đầu tư, mua trả góp, các dịch vụ lữ hành.
Ngày nay hiện đại hơn là các loại thẻ điện tử, máy rút tiền tự động, dịch vụ chứng khoán, các dịch vụ ngân hàng tại gia, thẻ séc.Chức năng này trong nền KTTT phát huy hơn bao giờ hết. Tóm lại bốn chức năng chủ yếu nói trên quyết định sự ton tại và phát triển của NHTM.2 Hoạt động tín dụng tại NHTM 1.1 Khái niệm tín dụng Tin dụng (credit) xuất phát từ chữ Latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thé mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thé hiểu theo các nghĩa sau: e Xét trên góc độ chuyên dịch quỹ cho vay từ chủ thé thing dư tiết kiệm sang chủ thé thiếu hụt tiết kiệm, thì tín dụng được coi là phương pháp chuyền dịch vốn từ người cho vay sang người đi vay (13, trang 7).
14 e Trong quan hệ tài chính cu thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có sự hoàn trả giữa hai chủ thé. Như một công ty công nghiệp hoặc thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này, người bán chuyên giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất định, theo thoả thuận, bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phố biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền cho bên đi vay và sau một thời gian nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi (13, trang 7). e Tín dụng còn được hiểu là sự bảo lãnh của bên thứ ba thường được gọi là tín dụng bằng chữ ký, như việc ngân hàng mở thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hưởng theo yêu cầu của nhà nhập khẩu hoặc các loại bank guarantee khác (13, trang 7).
e Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng (13, trang 8). Mục đích của luận văn này là xem xét tín dụng như một chức năng cơ bản của ngân hàng, vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chứng năng hoạt động của ngân hàng thì tin dụng được hiểu như sau: Tín dụng có thể được hiểu đơn giản là một quan hệ vay muon lẫn nhau dựa trên nguyên tắc có hoàn trả - tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay. Đối tượng vay mượn có thê là tiền hoặc tài sản. Nguyên tắc hoàn trả khang định người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng tiền hoạc tài sản của mình cho người đi vay trong một khoảng thời gian nhất định.