Chương 1 trình bay cơ sở hình thành dé tài, mục tiêu, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2 giới thiệu tong quan về hai ngành dịch vụ được nghiên cứu, trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến chất lượng mối quan hệ cùng các tiền tô và hậu tô trong các nghiên cứu trước, đưa ra các giả thuyết, dé xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3 mô tả chi tiết về phương pháp nghiên cứu, trong đó có thiết kết nghiên cứu, quá trình xây dựng và đánh giá thang do, thiết kế bảng khảo sát. Chương 4 trình bày các bước phân tích dữ liệu dựa vào kết quả thu thập được.
Cuối cùng, chương 5 nêu ra những kết quả nghiên cứu, đồng thời chương cuối này cũng nói lên đóng góp của đề tài, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET Chương này có 3 nhiệm vụ chính: (1) giới thiệu tình hình chung về kinh tế của các ngành dịch vụ được nghiên cứu, đặc điểm nhận dạng của chúng và so sánh những đặc điểm này với nhau, (2) tóm tắt một số khái niệm lý thuyết liên quan thông qua những công trình của các tác giả trước đây, (3) đưa ra mô hình nghiên cứu đi kèm với các giả thuyết và biện luận. Dịch vụ bảo dưỡng xe máy tại TP Hồ Chí Minh e Tình hình dịch vụ bảo dưỡng xe gắn máy tại TP Hồ Chí Minh Tại TP. Hồ Chí Minh, nếu tính riêng loại hình dịch vụ bảo hành/bảo dưỡng xe máy tại đại lý chính hãng (từ đây được gọi tắt là bảo dưỡng xe máy) thì đây là thị trường của các hãng xe chính Honda, Yamaha, Piaggio, SYM va Suzuki.
Hiện tại (tháng 9/2013) riêng Honda có 54 cửa hàng chính hãng có chức năng bảo dưỡng xe máy tại TP. HCM (Ngu6én: www. Con số này cho các doanh nghiệp khác lần lượt là Yamaha: 65 (Nguồn www.vn), Piaggio: 13 (Nguồn www.vn), SYM: 104 (Nguồn WWwW.vn) và Suzuki: 14 (Nguồn www. Như vậy, tong cộng TP.
Hồ Chí Minh có 250 cửa hàng bảo dưỡng xe máy chính hãng. Khách hàng của những cửa hàng dịch vụ này là những xe máy được bảo hành miễn phí hoặc sửa chữa/bảo dưỡng có trả phí cho nhà cung cấp dịch vụ. Số lượng xe khách hàng tổng cộng là rất lớn. Cụ thể, xe được khách hàng đem đi sửa chữa/bảo dưỡng có trả phí năm trong số xe còn lưu hành nhưng hết hạn bảo hành theo quy định của từng hãng.
Và tính đến hết tháng 9/2011, toàn thành phố có gần 5 triệu xe gắn máy đang lưu hành, chiếm 15% tong số xe cả nước (Từ An, 2011). Đối với xe được bao hành miễn phí, đây thường là những xe mới mua và còn trong thời gian bảo hành. Tính trên cả nước, số xe được khách hàng mua mới trong năm 2011 là khoảng 3,3 triệu chiếc (Đức Thọ, 2011). Nếu ước lượng dựa trên giả định lượng xe tiêu thụ tại TP Hồ Chí Minh cũng chiếm 15% lượng tiêu thụ trên cả nước thì SỐ lượng xe được bán ra tại thành phố năm 2011 là xấp xỉ 0.
6 e Đặc điểm dịch vụ bảo dưỡng xe gan máy Phát triển những kỹ năng chuyên nghiệp trong quản trị tiếp thị đòi hỏi khả năng nhìn thấu được nhiều tinh huống tiếp thị để hiểu được sự khác nhau và giống nhau giữa chúng. Lý do chính vì sự phân hóa cao các loại hình dịch vụ khiến việc tìm kiếm những chính sách tiếp thị phù hợp cho chúng trở nên khó khăn hơn. Do vậy, việc phát triển những cách thức để phân tích một loại hình dịch vụ nào đó, qua đó làm nỗi bật lên tính chất của chúng là rất quan trọng. Có rất nhiều cách phân loại loại hình dịch vụ dựa trên đặc điểm của chúng.
Tuy nhiên, công trình của Lovelock (1983) vẫn hay được dùng nhất trong thực tiễn. Nghiên cứu này dựa trên những kết quả trước đó, xem xét và tìm ra những tính chất thuộc về tiếp thị của dịch vụ khác biệt về mức độ và loại hình so với tính chất tiếp thị những sản phẩm được sản xuất theo cách truyền thống. Năm cách phân loại đã được đưa ra, tất cả đều phản ánh khả năng ảnh hưởng đến những chính sách tiếp thị được phát triển và ứng dụng cho riêng ngành dịch vụ. Mỗi cách tương ứng với việc trả lời 1 câu hỏi dưới đây: [1] Bản chất của hoạt động dịch vụ và đối tượng được phục vụ là gì? [2] Nhà cung cấp và khách hàng có quan hệ theo dạng nào, dịch vụ liên tục hay gián đoạn? [3] Khả năng đáp ứng sự tùy biến của khách hàng và mức độ tiếp xúc với khách hàng lúc đánh giá dịch vụ là cao hay thấp? [4] Mức độ biến động của nhu cầu dịch vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu đó ra sao? [5] Bản chất tương tác giữa khách hàng và nhà cung cấp, tính sẵn có của các cửa hàng dịch vụ như thế nào? Ta sẽ tiễn hành trả lời cả 5 câu hỏi dựa theo cách phân loại trên cho dịch vụ bảo dưỡng xe máy tại cửa hàng chính hãng.
Cụ thé như sau: [1] Dịch vụ bảo dưỡng xe máy có bản chất là những hoạt động hữu hình như sửa chữa, bảo hành và nham tới đối tượng là những hàng hóa hay những chủ thé vật lý khác ngoài con người — ở đây là chiéc xe máy. 7 [2] Dịch vụ chỉ được thực hiện trong một khoảng thời gian va kết thúc lúc khách hàng nhận xe. Do vậy, tính chất của dịch vụ là gián đoạn. Khách hàng của dịch vụ này chỉ cần là người sở hữu xe máy và có nhu câu được sửa chữa, bảo hành hay bảo dưỡng.
Họ không cần phải là thành viên của một chương trình nào của cửa hàng mới được phục vụ. [3] Tuy mỗi khách hàng có yêu cau và van dé riêng đối với xe máy của mình, nhưng hau như tất cả chúng đều là những van đề về kỹ thuật. Các cách giải quyết đều đã được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn của từng hãng xe, nhân viên phục vụ không cần phải chỉnh sửa, tùy biến gì thêm theo yêu cầu của khách hàng. Nghĩa là mức độ đáp ứng của cửa hàng cho sự tùy biến của khách hàng dịch vụ bảo dưỡng xe máy là thấp.
Ngoài ra, vì tất cả đã được quy chuẩn, khách hàng có thể yên tâm giao xe cho nhân viên, không nhất thiết có những tiếp xúc, theo dõi hay đánh giá trong lúc thực hiện dịch vụ. Điều này dẫn tới mức độ tiếp xúc giữa khách hàng và cửa hàng trong lúc đánh giá dịch vụ tương đối thấp. [4] Số lượng xe máy ở TP Hồ Chí Minh là lớn, nhưng nhìn chung, nhu cầu bảo dưỡng xe rất ít có xáo động. Các hãng xe hoàn toàn có thể dự đoán được nhu cầu thông qua số lượng xe tiêu thụ của mình trong thời gian trước đó.
Dựa vào dự báo này, họ có thể tăng khả năng phục vụ của từng cửa hàng hoặc mở thêm những cửa hàng dịch vụ khác nếu can để có thé luôn duy trì được mức độ đáp ứng trước sự tăng cao của nhu cầu sửa chữa, bảo dưỡng xe máy. [5] Với số lượng cửa hàng chính hãng tương đối lớn và phân bố rộng rãi như hiện tại, mức độ sẵn có của cửa hàng dịch vụ được đánh giá là cao. Bắt kế vị trí của khách hàng ở đâu. họ déu có khả năng tìm cho mình những cửa hang trong phạm vi gần.
Và một đặc điểm hiển nhiên nữa của dịch vụ này chính là khách hàng phải đi đến nơi đặt cửa hàng dé được phục vụ. Dich vụ cắt tóc tại TP H6 Chí Minh e Tình hình dịch vụ cắt tóc tại TP Hồ Chí Minh Cat tóc là một nhu câu cơ ban của con người cho nên sô lượng cửa hàng được mở ra dé cung cap dịch vụ cat tóc là rat lớn. Dịch vụ này trải dài ra nhiêu phân khúc khác nhau. Một cửa hàng có thể mang tính chất bình dân, giá cả phù hợp với số đông 8 khách hang, hoặc cũng có thé được phục vụ chu đáo với chi phí cao hon trong những cửa hàng sang trọng.
Theo Cục quản lý đăng ký kinh doanh — Bộ kế hoạch và đầu tư (2013), đến tháng 9 năm nay có tổng cộng 185 cửa hang cat tóc tại TP Hồ Chí Minh có đăng ký kinh doanh như một doanh nghiệp có mã số thuế. Còn số lượng những cửa hàng nhỏ lẻ, không đăng ký kinh doanh thì không thể đếm xué và chưa có nghiên cứu chính thức nào công bố. Theo ước lượng không chính thức của những người trong nghề này, cả nước có khoảng 10.000 cửa hàng cắt tóc có biển hiệu (Mai Lan Hương, 2011). Nếu giả sử số lượng cửa hàng cắt tóc tương ứng với quy mô dân số thì với tỷ lệ gần 10% dân số của TP Hỗ Chí Minh so với cả nước, số cửa hàng có biển hiệu tại đây vào khoảng 1.
e Đặc điểm dịch vụ cắt tóc Ta cũng nêu ra những đặc điềm cua dịch vụ cat tóc thông qua việc trả lời 5 câu hỏi theo cách phan loại dịch vụ cua Lovelock (1983) tương tự như bảo dưỡng xe máy: [1] Cat tóc là một dịch vụ mang tính hữu hình và được phục vụ cho chính con người. [2] Dịch vụ cắt tóc cũng có tính chất gián đoạn vì chỉ được thực hiện trong một khoảng thời gian, dịch vụ kết thúc khi người thợ hoàn thành các công việc của mình và khách hang ra về. Quan hệ giữa khách hàng và cửa hang cat tóc không can theo kiểu thành viên. Thông thường, mọi khách hàng có nhu cau đều có thé đến bat cứ cửa hàng cat tóc nào dé yêu câu được thực hiện dich vu.
[3] Khách hàng đến với dịch vụ cat tóc với những yêu cau, đòi hỏi rất khác nhau. Cách đáp ứng, thể hiện cho cùng một yêu cầu cũng thay đổi theo từng khách hàng. Không hề có chuẩn mực nào cho việc thực hiện dịch vụ cắt tóc. Do vậy, nhân viên thực hiện đòi hỏi phải có tay nghề, năng khiếu và tính sáng tạo để có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Và có thé thay khả năng đáp ứng của cửa hang cho sự tùy biến của khách hang đối với dịch vụ cắt tóc là rất cao. Khách hang cũng hay có những tương tác với nhân viên trong quá trình thực hiện hay đánh giá dịch vụ dẫn tới mức độ tiếp xúc rất cao giữa họ. [4] Nhu cầu cắt tóc đối với người dân thành phố khá cao nhưng có đặc điểm là biến động lớn. Lý do bởi vì khách hàng thường sắp xếp đi thực hiện dịch vụ này vào 9 thời gian rảnh hoặc để chuẩn bị cho những dịp quan trọng.