CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC LIDAR 1. Kỹ thuật LIDAR LIDAR (Light Detection and Ranging) là phương pháp quan trắc chủ động từ xa để nghiên cứu các thông số khí quyển như nhiệt độ, thành phần, gió. LIDAR hoạt động tương tự như RADAR, trong thực tế nhiều khi LIDAR còn được gọi là RADAR ánh sáng.
Cả hai kỹ thuật này đều phát ra bức xạ điện từ và thu nhận các bức xạ tán xạ trở lại thiết bị. Các bức xạ tán xạ trở lại được phân tích để xác định đặc điểm của khu vực mà các bức xạ điện từ đi qua. Điểm khác biệt giữa LIDAR và RADAR nằm ở việc sử dụng các bước sóng khác nhau, RADAR sử dụng các bước sóng lớn hơn 1 cm nằm trong phổ sóng vô tuyến trong khí đó LIDAR sử dụng bước sóng ánh sáng trong phổ cực tím, thị phổ và hồng ngoại [1]. Lược sử về công nghệ LIDAR Nói về lịch sử phát triển của kỹ thuật LIDAR quan trắc xon khí thì không thể không nhắc đến Hulburt năm 1937, là người đầu tiên đo xon khí sử dụng kỹ thuật đèn pha công suất lớn, chụp được tia sáng tới 28 km [2], nhưng sau đó gần ba thập kỷ, công nghệ Laser điểm mấu chốt của hệ thống LIDAR mới ra đời nên những nghiên cứu khí quyển sử dụng Laser hay LIDAR mới thực sự xuất hiện với nghiên cứu của Fiocco và Smullin năm 1963 với tầng khí quyển trên [3], và bởi Ligda năm 1963 với tầng đối lưu [4].
Sau các thành công đó, các bước phát triển lớn được tạo ra vả trong phát triển kỹ thuật và hệ thống LIDAR và ứng dụng của công nghệ mới này ngày càng đa dạng. Hệ thống LIDAR Một hệ thống LIDAR bao gồm năm phần cơ bản như sau (Hình Error! No text of specified style in document. Hình Error! No text of specified style in document.1 Sơ đồ khối hệ thống LIDAR [5] Khi hệ thống LIDAR hoạt động, một xung laser được phát vào khí quyển thông qua bộ phận phát tín hiệu laser, độ dài xung và bước sóng laser được chọn tùy vào mục tiêu quan sát và mục đích nghiên cứu, xung laser sẽ tương tác với các thành phần khí quyển và tán xạ ngược trở lại hệ thống LIDAR và được thu nhận lại bằng một hệ thống quang học thu và các cảm biến ánh sáng, sau đó tín hiệu được số hóa và chuyển về hệ thống máy tính để lưu trữ phục vụ cho quá trính xủ lý số liệu. Phân loại và ứng dụng của LIDAR Sự tương tác ánh sáng với các quá trính vật lý trong khí quyển rất đa dạng với nhiều quá trình vật lý khác nhau, do đó các thiết bị LIDAR cũng được xây dựng dựa trên cơ sở này và phục vụ quan trắc các loại đối tượng 4 khác nhau trong khí quyển, các quá trình vật lý và các loại LIDAR quan trắc các đối tượng tương ứng được mô tả trong Hình Error! No text of specified style in document.
Hình Error! No text of specified style in document.2 Các quá trình vật lý, thiết bị LIDAR và các thông số khí quyển quan trắc được [5] 1. Phương trình LIDAR Để tính toán được các thông số khí quyển, tín hiệu LIDAR được xử lý và phân tích bằng phương trình LIDAR. Phương trình này thể hiện mối liên hệ giữa tín hiệu tán xạ ngược trong không gian nhận được bởi cảm biến với các yêu tố khí quyển và hệ thống LIDAR. Tín hiệu tại khoảng cách Z được xác định như sau: Error! No text of specified style in document.-1 5 Trong đó: : Tín hiệu thu được tại khoảng cách Z : Năng lượng xung laser phát đi : Hằng số hệ LIDAR (bao gồn các suy hao gây ra bởi thiết bị, hệ quang học thu, cảm biến, độ truyền qua khí quyển) : Hệ số tán xạ ngược xon khí : Hệ số tán xạ ngược phân tử : Độ truyền qua bởi xon khí : Độ truyền qua bởi phân tử 1.
Tổng quan các nghiên cứu về khí quyển sử dụng công nghệ LIDAR Nghiên cứu ngoài nước Hiện nay trên thế giới đã và đang có nhiều nghiên cứu sử dụng công nghệ LIDAR để quan trắc khí quyển. Nói về lịch sử phát triển của kỹ thuật LIDAR quan trắc xon khí thì không thể không nhắc đến nghiên cứu của Hulburt năm 1937, là người đầu tiên đo xon khí sử dụng kỹ thuật đèn pha công suất lớn, chụp được tia sáng tới 28 km [2]. Sau đó gần ba thập kỷ, công nghệ Laser điểm mấu chốt của hệ thống LIDAR mới ra đời nên những nghiên cứu khí quyển sử dụng Laser hay LIDAR mới thực sự xuất hiện với nghiên cứu của Fiocco và Smullin năm 1963 với tầng khí quyển trên [3], và bởi Ligda năm 1963 với tầng đối lưu [4]. Sau các thành công đó, các bước phát triển lớn được tạo ra vả trong phát triển kỹ thuật và hệ thống LIDAR và ứng dụng của công nghệ mới này ngày càng đa dạng.
Fernald năm 1972, 1984 và Klett năm 1981 nghiên cứu xây dựng phương pháp điểm biên để tính toán các thông số khí quyển từ số 6 liệu LIDAR [6-8]. Brook năm 2003 đã đưa ra phương pháp xác định độ cao lớp biên từ số liệu LIDAR bằng phương pháp biến đổi hiệp phương sai WCT (Wavelet Covariance Transform) [9]. Nghiên cứu của Chan năm 2010 đã tính toán hệ số tán xạ ngược – suy hao xon khí cho hệ LIDAR Doppler dựa trên số liệu quang phổ kế [10]. Các đặc điểm về độ dày quang học xon khí đã được đo đạc và tính toán trong nghiên cứu của Porter và cs năm 2002 bằng hệ thống LIDAR di động Mie-Rayleigh được đặt tại Hawaii [11].
Ware, Kort và cs 2016 nghiên cứu các đặc điểm lớp xáo trộn tại Pasadena California bằng thiết bị MPLNET [12]. Mei, Guan và cs năm 2017 sử dụng hệ thống LIDAR mie bước sóng 808nm xác định hệ số xuy hao xon khí tại Đại Liên và xem xét sự tương quan với số liệu PM10 / PM 2.5 và cho kết quả tốt [13]. Liu, He và cs năm 2017 đã xác định AOD và hệ số suy hao xon khí sử dụng LIDAR MPLNET tại Thượng Hải [14]. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, hệ thống LIDAR quan trắc khí quyển hiện chưa được phổ biến và áp dụng rộng rãi, hiện tại mới chỉ dừng lại ở một số nghiên cứu chế tạo, mô phỏng và đo đạc thử nghiệm.
Một số nghiên cứu nổi bật như Nguyễn Xuân Anh và cs năm 2008 đã nghiên cứu về ứng dụng LIDAR trong quan trắc đặc tính mây Ci, nghiên cứu này chỉ ra qua hệ thống LIDAR hai kênh thu, các thông số về mây Ci được xác định bao gồm độ cao chân mây, độ cao đỉnh mây, hệ số tán xạ ngược, hệ số hấp thụ, độ dày quang học, tỉ lệ phân cực [15]. Nguyễn Xuân Anh và cs năm 2014 đã sử dụng LIDAR trong nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của xon khí tại Việt Nam [16]. Phạm Xuân Thành và cs năm 2016 đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng đo đạc LIDAR trong đánh giá ảnh hưởng khí quyển lên ảnh vệ tinh, nghiên cứu khẳng định các kết quả thu được về quan trắc xon khí, hơi 7 nước, nhiệt độ là nguồn số liệu hữu ích cho việc nghiên cứu vật lý khí quyển [17]. Âu Duy Tuấn và cs năm 2017 đã nghiên cứu mô phỏng tín hiệu đo đạc LIDAR, và so sánh với kết quả đo thực tế và cho thấy có sự phù hợp về tín hiệu mô phỏng và tín hiệu đo đạc tại hệ thống LIDAR IGP [18].
Bùi Văn Hải và cs năm 2012, 2013, Nguyễn Xuân Tuấn và cs năm 2014, 2016 đã nghiên cứu chế tạo hệ thống LIDAR raman sử dụng để đo đạc nhiệt độ, mật độ khí quyển, hệ số suy hao tại tầng đối lưu, tầng bình lưu, lớp biên khí quyển, tỉ số LIDAR [19-22]. Khí quyển và các thông số khí quyển 1. Cấu trúc của khí quyển Thành phần của khí quyển Khí quyển là một lớp khí bao quanh trái đất; 99% khối lượng của khí quyển tập trung ở độ cao dưới 30km và có thành phần rất đa dạng (bảng 1-1). Bảng Error! No text of specified style in document.1 Thành phần của khí quyển không bị ô nhiễm [23] Không khí khô Không khí ẩm Khí ppm µg/m3 ppm µg/m3 Ni-tơ 780,000 8.02 - Phân tầng khí quyển Khí quyển được phân thành 5 tầng chính với thứ tự từ trên xuống như sau: tầng ngoại quyển, tầng nhiệt quyển, tầng trung quyển, tầng bình lưu và tầng đối lưu.
Bên trong tầng đối lưu có lớp một một lớp phụ quan trọng là lớp biên hành tinh, lớp này là phần của khí quyển chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các tác động của bề mặt trái đất. Hình Error! No text of specified style in document.3 Phân tầng khí quyển theo nhiệt độ (đỏ), thành phần (xanh lá) và điện trường (xanh dương) [24] 9 1. Sự tán xạ và hấp thụ ánh sáng trong khí quyển Bức xạ mặt trời khi truyền qua khí quyển bị hấp thụ và tán xạ bởi các loại khí, xon khí, mây, và bề mặt trái đất. Phần bức xạ bị hấp thụ được thêm trực tiếp vào trữ lượng nhiệt; mặt khác bức xạ bị tán xạ có một phần quay trở lại không gian và một phần tiếp tục truyền trong khí quyển và tiếp tục bị hấp thụ và tán xạ [1].
Thông thường, mây có tác động lớn nhất đến bức xạ mặt trời nhận được tại bề mặt trái đất do các đặc điểm quang học và đặc tính vật lý của mây như độ che phủ, độ dày mà mây có thể hấp thụ hoặc tán xạ các tia bức xạ mặt trời và ngăn cản bức xạ tới bề mặt trái đất. Hơi nước hấp thụ bức xạ mặt trời, lượng hơi nước trong khí quyển biến đổi trong ngày và thay đổi theo mùa, nhiều hơi nước hơn trong mùa ẩm và ít hơi nước hơn trong mùa khô. Các hạt bụi nhỏ lơ lửng trong khí quyển tưởng chừng như vô hại cũng có tác động tương đối tới bức xạ mặt trời, các hạt này thường được gọi là xon khí, có nguồn gốc từ tự nhiên và cũng có thể do con người sinh ra. Chúng tác động tới bức xạ mặt trời dưới dạng hấp thụ và tán xạ bức xạ mặt trời, hoặc qua các quá trình biến đổi và xon khí vai trò làm hạt nhân ngưng kết để tạo mây, mưa.
Ozone cũng là một loại xon khí tuy nhiên chúng tồn tại ở lớp khí quyển trên cao, lượng ozone tồn tại trong khí quyển thay đổi thei mùa và theo vĩ độ, ozone có vai trò chính là hấp thụ các bức xạ cực tím có hại cho con người.