Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LƯỚI ĐIỆN VÀ TIÊU THỤ ĐIỆN CỦA HUYỆN NA RÌ 1. Phân tích về nhu cầu cung cấp điện năng Huyện Na Rì là huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên là 85.300,00 ha, chiếm 17,54% diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Kạn, gồm 21 xã và 01 thị trấn với 233 thôn, bản. - Phía bắc giáp huyện Ngân Sơn. - Phía nam giáp huyện Chợ Mới và tỉnh Thái Nguyên.
- Phía đông giáp huyện Bình Gia và Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn). - Phía tây giáp huyện Bạch Thông. Thị trấn Yến Lạc là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của huyện, cách thị xã Bắc Kạn 72 km và thành phố Thái Nguyên 130 km theo quốc lộ 3B và quốc lộ 3. Đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng như đường giao thông, trường học, điện lưới quốc gia, trạm y tế xã mặc dù đã được Nhà nước quan tâm đầu tư xong vẫn còn nhiều khó khăn.
Na Rì có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi với nhiều núi đá vôi, thung lũng hẹp, độ dốc lớn, thuộc cánh cung Ngân Sơn. Độ cao trung bình toàn huyện là 500m, cao nhất là núi Phyia Ngoằm (xã Cư Lễ) với độ cao 1.193m, thấp nhất ở xã Kim Lư với độ cao 250m so với mực nước biển. Nhìn tổng thể, địa hình của huyện có hướng thấp dần từ tây nam sang đông bắc, được chia thành 2 dạng địa hình sau: - Địa hình vùng núi đá Các dãy núi đá trải dài trên hầu hết các địa bàn trong huyện là các xã Kim Hỷ, Ân Tình, Lạng San, Lam Sơn, Hảo Nghĩa, Cư Lễ với độ dốc trên 200. Tại nhiều nơi núi đá còn có độ dốc tới 600 với độ cao thay đổi từ 300m ÷ 500m.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Khối núi đá vôi Kim Hỷ được đánh giá là loại địa hình Caxtơ trẻ với những đỉnh đá tai mèo, vách đứng, vực sâu, nhiều sông suối chảy ngầm, vô cùng nguy hiểm. - Địa hình vùng núi đất Phân bố ở hầu hết các xã trong huyện, gồm các dãy núi kéo dài liên tiếp nhau có độ cao thay đổi từ 300m ÷ 700m. Địa hình vùng này rất phức tạp, hầu hết các dãy núi được hình thành trên các khối đá mắc ma, biến chất, trầm tích, có đỉnh nhọn, độ dốc lớn. Xen kẽ giữa các dãy núi chạy dọc theo các sông suối lớn có các thung lũng nhỏ hẹp dạng lòng máng hầu hết đã được khai thác để trồng lúa màu.
Ở vùng này thực vật phát triển rất đa dạng và phong phú, những nơi còn rừng đất đai còn tốt, tầng đất dày. Một số nơi do việc khai thác không hợp lý, độ che phủ thực vật giảm, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, hàm lượng các chất dinh dưỡng suy giảm nhiều. Địa hình của huyện Na Rì đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất, cụ thể là các quá trình rửa trôi và tích luỹ. Quá trình rửa trôi diễn ra mạnh vào mùa mưa ở vùng núi đá chia cắt, dốc nhiều, ở vùng đồi núi thấp có những thung lũng tương đối bằng phẳng, thích nghi với các loại cây lương thực và cây ngắn ngày vùng nhiệt đới.
Na Rì có tốc độ đô thị hóa chậm, các hoạt động công nghiệp chưa phát triển, nền kinh tế của huyện chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ phát triển chậm. Trong những năm qua nhu cầu về điện năng để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ mục đích chính trị, bảo đảm an ninh - quốc phòng của huyện Na Rì luôn tăng trưởng với tốc độ khá cao, số liệu tăng trưởng về trong giai đoạn 2013 - 2018 như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.1: Số liệu điện thương phẩm các năm giai đoạn 2013 - 2018.(1) Năm Điện thương phẩm (kWh) Tốc độ tăng trưởng 2013 10.677 7,2% so với năm 2017 Trong đó điện cho các thành phần phụ tải theo số liệu báo cáo kinh doanh năm 2018 như sau: Bảng 1.2: Số liệu thành phần phụ tải năm 2018.(2) STT Thành phần phụ tải Sản lượng (kWh) Tỷ trọng (%) 1 Nông, lâm nghiệp, thủy sản 62.921 0,64 2 Công nghiệp, xây dựng 2.941 26,31 3 Thương nghiệp, khách sạn, nhà 173.146 1,76 hàng 4 Quản lý, tiêu dùng 6.724 65,8 5 Hoạt động khác 539.967 5,48 - Nhu cầu về điện để phục vụ cho mục đích nông, lâm nghiệp, thủy sản có tỷ trọng nhỏ chiếm khoảng trên, dưới 1% tổng sản lượng hàng năm. - Nhu cầu về điện để phục vụ cho thành phần phụ tải công nghiệp, xây dựng chiếm khoảng trên dưới 20% tổng sản lượng hàng năm. Chủ yêu cho sử dụng cho nhu cầu khai thác mỏ, sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất lâm sản.
Dung lượng MBA của các Xưởng, Mỏ như sau: 1. Mỏ đá Lủng Tráng dung lượng máy biến áp 560 (KVA) 2. Mỏ đá Khưa Trạng dung lượng máy biến áp 560 (KVA) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Mỏ đá Thôm Ỏ dung lượng máy biến áp 320 (KVA 4.
Mỏ đá Lũng Ráo dung lượng máy biến áp 560 (KVA) 5. Mỏ đá Phia Van dung lượng máy biến áp 250 (KVA) 6. Xưởng gỗ Hồng Quảng dung lượng máy biến áp 250 (KVA) 7. Xưởng gỗ Huy Hoàng dung lượng máy biến áp 250 (KVA) 8.
Nhà máy gạch Sao Mai dung lượng máy biến áp 250 (KVA) - Nhu cầu về điện để phục vụ cho mục đích Thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng có tỷ trọng chiếm khoảng trên 1% đến 5% tổng sản lượng hàng năm. - Nhu cầu về điện để phục vụ cho mục đích Quản lý, tiêu dùng có tỷ trọng chiếm khoảng trên 65 % đến 71 % tổng sản lượng hàng năm. - Nhu cầu về điện để phục vụ cho Hoạt động khác có tỷ trọng chiếm khoảng trên 4 % đến 6 % tổng sản lượng hàng năm. Nguồn cấp Lưới điện huyện Na rì chủ yếu được cấp từ 2 lộ đường dây của trạm 110 kV E26.1 Bắc Kạn có công suất 50MVA; lộ đường dây 35 KV 373 E26.1 và lộ đường dây 35 KV 371 E26.
Mạnh vòng dự phòng gồm có các mạch: mạch vòng 35 KV Tràng Định - Na Rì và mạch vòng 35 KV Chợ Mới - Na Rì. Lộ đường dây 35 KV 373 E26.1 và các nhánh rẽ có tổng chiều dài 200 km cấp điện cho 107 TBA phân phối với tổng dung lượng lắp đặt 10.662 kVA: Cấp điện cho các xã, Thị trấn: Côn Minh, Quang Phong, Đổng Xá, Hữu Thác, Hảo Nghĩa, Dương Sơn, Xuân Dương, Liêm Thủy, Cư Lễ, Lam Sơn, Lương Hạ, Kim Lư, Lương Hạ, Cường Lợi, Vũ Loan, Văn Học và Thị trấn Yến Lạc, lộ đường dây này cấp cho 4/5 phụ tải địa bàn huyện Na Rì. Lộ đường dây 35 KV 371 E26.1 và các nhánh rẽ có tổng chiều dài 56 km cấp điện cho 25 TBA phân phối với tổng dung lượng lắp đặt 1.831 kVA cấp điện cho các xã: Kim Hỷ, Lương Thượng, Lạng San, Ân Tình, Lương Thành, Văn Minh và 1 phần của xã Lam Sơn. Lộ đường dây này có hai nguồn cấp đó Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c là nguồn lưới điện Quốc gia lấy từ trạm 110 kV E26.1 Bắc Kạn và từ nhà máy thủy điện Thượng Ân có công suất 2,4 MVA đóng trên địa bàn huyện Ngân Sơn, lộ đường dây này cấp cho 1/5 phụ tải huyện Na Rì.
Dự kiến đến năm 2020 trên địa bàn huyện, thủy điện Pác Cáp có công suất 6MVA sẽ được xây dựng xong và sẽ có khả năng đáp ứng được toàn bộ phụ tải huyện Na Rì. Đồ thị phụ tải điển hình. ĐỒ THỊ PHỤ TẢI NGÀY 6 - 12 5000 4000 P (KW) 3000 2000 1000 0 1 3 5 7 9 11 13 15 17 19 21 23 25 27 29 31 33 35 37 đồ thị phụ tải 371 39 41 43 45 47 đồ thị phụ tải 373 đồ thị phụ tải tổng Hình 1.1: Đồ thị phụ tải điển hình 1. Hiện trạng chất lượng điện huyện Na Rì Đặc điểm lưới điện: Lưới điện huyện Na rì chủ yếu được cấp từ 2 lộ đường dây của trạm 110 kV E26.1 Bắc Kạn: - Lộ đường dây 35 KV 373 E26.1 có chiều dài 200 km sử dụng loại dây dẫn AC95, AC 70 cho đường trục và AC 70, AC 50 cho các nhánh rẽ vào trạm; trên lộ đường dây này do bán kính cấp điện từ trạm 110 kV E26.1 dài do vậy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c để nâng cao chất lượng điện năng phía cuối nguồn năm 2018 Công ty Điện lực Bắc Kạn thực hiện đầu tư xây dựng 01 MBA tự ngẫu dung lượng 7000 KVA; TBA phân phối 35/0,4 kV:107 TBA có dung lượng từ 31,5 kVA đến 560 KVA với tổng dung lượng 10.662 kVA được đấu vào lưới.
- Lộ đường dây 35 KV 371 E26.1 có chiều dài 56 km sử dụng loại dây dẫn AC 70 cho đường trục và AC 50 cho các nhánh rẽ vào trạm; trên lộ đường dây này có 25 MBA có dung lượng từ 31,5 kVA đến 180 KVA với tổng dung lượng 1.831 kVA được đấu vào lưới. Các thiết bị trên lưới điện: * Máy cắt Reclose: 09. * Cầu dao phụ tải: 14. * Cầu dao cách ly: 37.
* Tụ bù trung thế: 01 bộ dung lượng 900 kVAR. * Tụ bù hạ thế: 47 bộ dung lượng 1. - Về lưới điện 0,4 kV: Lưới điện 0,4 kV sau các TBA hầu hết đã được đầu tư mới, cải tạo, sửa chữa lớn sử dụng các loại là cáp vặn xoắn có tiết diện 4x50, 4x70, 4x95 tuy nhiên vẫn còn một số ít đường dây thuộc chương trình dự án do nguồn ngân sách địa phương đầu tư mới được bàn giao cho nghành điện hiện nay vẫn còn sử dụng dây AV 50, AV 70 và có một số TBA do đặc điểm khách hàng nông thôn miền núi sống phân tán, thưa thớt nên có bán kính cấp điện tương đối dài từ 2km đến hơn 3 km. Các thông số về điện áp, dòng điện, cos Φ đo được tại điểm đo đếm ranh giới Thành Phố - Na Rì và Ngân Sơn - Na Rì khai thác vào ngày có sản lượng cao nhất như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.