CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tình hình phát triển thị trường của ô tô Việt Nam Định hướng giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, Việt Nam phát triển công nghiệp ô tô trở thành ngành quan trọng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước. Theo đó ngành sẽ tập trung vào các dòng sản phẩm sau: - Hình thành doanh nghiệp qui mô lớn (dẫn dắt thị trường): Thu hút và tập trung các chính sách ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp có Dự án đầu tư sản xuất các dòng xe ưu tiên có quy mô công suất trên 50.000 xe/năm và dự án sản xuất các bộ phận động cơ, hộp số, cụm truyền động.
- Đối với xe chở người đến 9 chỗ ngồi: định hướng cho giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 là tập trung vào phát triển các sản phẩm xe con phù hợp với người Việt Nam và xu hướng phát triển xe con của thế giới (xe thân thiện môi trường: eco car, hybrid…) gồm: Xe cá nhân, kích thước nhỏ, tiêu thụ ít năng lượng, thân thiện với môi trường và giá cả phù hợp với người tiêu dùng Việt Nam. - Đối với xe tải và xe khách: tập trung vào phát triển các chủng loại sản phẩm sản xuất trong nước có lợi thế và các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, nông thôn; các loại xe chuyên dùng, gồm có: xe tải nhỏ đa dụng phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn; xe khách tầm trung và tầm ngắn; xe chở bê tông, xi téc và đặc chủng an ninh - quốc phòng; xe nông dụng đa chức năng. - Về công nghiệp hỗ trợ: định hướng cho thời gian tới là tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp lớn nước ngoài trong việc sản xuất linh kiện và phụ tùng, trong đó tập trung vào các bộ phận quan trọng, hàm lượng công lượng công nghệ cao để phục vụ nhu cầu của thị trường trong nước, thay thế nhập khẩu, tiến tới xuất khẩu. Cụ thể tỷ lệ giá trị c 4 sản xuất chế tạo trong nước đối với sản xuất ô tô: đến năm 2020, xe đến 9 chỗ đạt 30 - 40%, từ 10 chỗ trở lên đạt 35 - 45%, xe tải đạt 30 - 40%, xe chuyên dụng đạt 25 - 35%; đến năm 2025, xe đến 9 chỗ đạt 40 - 45%, từ 10 chỗ trở lên đạt 50 - 60%, xe tải đạt 45 - 55%, xe chuyên dụng đạt 40 - 45%; đến năm 2035, xe đến 9 chỗ đạt 55 - 60%, từ 10 chỗ trở lên đạt 75 - 80%, xe tải đạt 70 - 75%, xe chuyên dụng đạt 60 - 70%.
Tính đến năm 2015, ngành sản xuất ô tô có trên 400 doanh nghiệp, tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng Sông Hồng. Đa số doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Tổng công suất lắp ráp thiết kế khoảng 460.000 xe/năm, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 47%, doanh nghiệp trong nước khoảng 53%. Giai đoạn 2001-2014, tốc độ tăng trưởng bình quân của sản xuất lắp ráp ô tô khoảng 17%/năm.
Biến động của nền kinh tế và sự thay đổi của chính sách, đặc biệt các chính sách về thuế, phí là các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất cũng như tiêu thụ xe ô tô. Tổng số lượng xe tiêu thụ năm 2010 là 184.815 xe và năm 2013 là 153.178 xe, năm 2015 là trên 350. Đến nay thị trường đã có sự tham gia tích cực và rộng rãi của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong đó có một số công ty trong nước Công ty cổ phần Ô tô Trường Hải (Thaco), Công ty cổ phần Huyndai Thành Công.và các tập đoàn ô tô lớn trên thế giới (Toyota, Ford, Honda, Mitsubishi,. Tổng năng lực sản xuất - lắp ráp ô tô khoảng 460 ngàn xe/năm, gồm hầu hết các chủng loại xe con (công suất khoảng 200 ngàn xe/năm), xe tải và xe khách (công suất khoảng 215 ngàn xe/năm).
Dao động và độ êm dịu chuyển động Khái niệm dao động: Ô tô là một hệ dao động cơ học bao gồm nhiều khối lượng có mối liên kết với nhau và nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với bề mặt đường có biên c 5 dạng phức tạp. Trong lý thuyết ô tô khi nghiên cứu dao động ô tô thường giả thiết là khối lượng của ô tô là tập trung, được chia làm hai phần được treo và không được treo. Khối lượng của thân ô tô được đỡ bởi các lò xo được gọi là khối lượng được treo, Khối lượng của cầu mang bánh xe và các chi tiết khác không được đỡ bởi lò xo được gọi là khối lượng không được treo Khi xe chuyển động, thân xe có thể có các dao động theo các trục tọa độ được nêu trong hình 1. Các dạng dao động của thân xe Các dao động đó là: - Dao động xung quanh trục dọc OX (sự lắc ngang).
Là sự chuyển động lắc của ô tô quanh trục dọc khi ô tô đi qua mặt đường mà một bánh xe bị rơi xuống ổ gà hoặc qua những đoạn đường mấp mô. Đây là dao động ảnh hưởng nhiều nhất đến độ êm dịu chuyển động và an toàn chuyển động của xe. - Dao động xoay xung quanh trục ngang OY (sự lắc dọc) là dao động lên xuống của phần trước hay phần sau ô tô quanh trục ngang đi qua trọng tâm của nó. Dao động này xảy ra khi cả hai bánh xe của ô tô cùng đi qua vết lồi hay vết lõm trên đường.
c 6 - Dao động lên xuống (sự nhún) theo trục OZ thẳng đứng. Là sự chuyển động lên xuống của toàn bộ xe xuất hiện khi xe chuyển động trên đường không bằng phẳng. - Dao động xung quanh trục OZ (sự xoay đứng) là sự di chuyển xoay của thân xe sang bên trái hoặc bên phải quanh trục thẳng đứng khi xe chuyển động Các nguyên nhân gây ra dao động của ô tô: - Độ lệch tâm và hình dạng không đồng đều của bánh xe, độ không cân bằng của các bánh xe và các chi tiết quay của động cơ, hệ thống truyền lực. - Các ngoại lực xuất hiện trong quá trình của ô tô khi tăng tốc, khi phanh, quay vòng.
- Các mấp mô từ mặt đường. - Cho đến nay mấp mô biên dạng đường là nguyên nhân chính gây ra dao động của ô tô. Ảnh hưởng của dao động - Dao động của ô tô ảnh hưởng xấu đến con người, hàng hóa chuyên trở trên xe, đến khả năng làm việc và tuổi thọ của các cụm, các cơ cấu tổng thành trên xe. - Đối với cơ thể người: khi ô tô chuyển động sinh ra các tác động lên người ngồi trên ô tô làm cho cơ thể người thực hiện những dao động riêng tắt dần và dao động cưỡng bức.
Dao động phức tạp này làm biến đổi tâm sinh lý gây ra cảm giác mệt mỏi, giảm năng suất làm việc và ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe. - Đối với độ bền của xe: Khi ô tô dao động sẽ phát sinh các tải trọng động tác dụng lên khung vỏ ôtô, lên các cụm, hệ thống và các chi tiết của xe cũng như bề mặt đường… ảnh hưởng đến độ bền và tuổi thọ của ôtô và đường. Theo số liệu thống kê người ta thấy rằng, khi ôtô vận tải chạy trên đường xấu gồ ghề, so với ôtô cùng loại chạy trên đường tốt bằng phẳng thì c 7 vận tốc trung bình giảm khoảng (4050)%, quãng đường chạy giữa hai kỳ sửa chữa lớn giảm (3540)%, suất tiêu hao nhiên liệu tăng (5070)%, năng suất vận chuyển giảm (3540)%, giá thành vận chuyển tăng (5060)%. Đối với độ bền chi tiết ô tô thì ảnh hưởng của của dao động được thể hiện một cách rõ rệt.
Khi dao động, gia tốc dao động gây ra các tải trọng quán tính và có thể xẩy ra hiện tượng cộng hưởng làm cho hư hỏng các chi tiết, khung vỏ của xe[5,6]. Xem xét ảnh hưởng tổng thể "Người – Xe – Đường" : trong quá trình chuyển động của ô tô, do ảnh hưởng của mấp mô mặt đường, động cơ đốt trong gây nên dao động và dao động này gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và sự chịu đựng của con người. Để nâng cao chất lượng phục vụ con người thì việc nghiên cứu những tác động qua lại của tổng thể "Người – Xe – Đường" là cần thiết để qua đó xác định các thông số kết cấu có ảnh hưởng đến sự chịu đựng của con người từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý giảm thiểu các tác động xấu do dao động gây nên. Người Hệ thống phanh, lái Thân xe Hệ thống treo Đường Hình 1.
Hệ thống "Đường-Xe-Người" Để xét sự tác động qua lại mô hình động lực quan hệ "Người – Xe – Đường" được đưa ra hình 1.1, qua sơ đồ chúng ta thấy ba đối tượng "Người", c 8 "Xe" và "Đường" có tác động qua lại với nhau. Trong quá trình xe chuyển động trên đường, dao động của xe ảnh hưởng trực tiếp đến đường thông qua hệ thống treo. Mặt khác tình trạng mặt đường ảnh hưởng trực tiếp đến con người thông qua thân xe, ghế ngồi, hệ thống lái, hệ thống phanh. Khối lượng được treo, không được treo, khối lượng thân xe, kết cấu khung xe, kết cấu ghế ngồi.
đều ảnh hưởng đến con người và mặt đường. Do vậy chúng ta phải dựa trên mối quan hệ "Người – Xe – Đường" để nghiên cứu dao động của xe. Trong luận văn này, tác giả tiến hành đánh giá ảnh hưởng của điều kiện mặt đường, vận tốc chuyển động của xe và tải trọng của xe đến độ êm dịu hành khách. Độ êm dịu chuyển động của xe được đánh giá thông qua nhiều tiêu chí đánh giá khác nhau, hiện nay chưa một quốc gia và lãnh thổ ban hành chỉ tiêu cụ thế nào và các chỉ tiêu đánh giá sẽ được trình bày phần sau.
Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam trong những năm gần đây ngành công nghiệp ô tô đã có những bước phát triển đáng kể, kéo theo đó là hệ thống đường giao thông cũng liên tục được đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới để đáp ứng sự phát triển của đất nước.