Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của ý thức pháp đối với thực hiện pháp luật. - Chương 2: Thực trạng về vai trò của sự tác động ý thức pháp luật lên thực hiện pháp luật. - Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp giúp nâng cao ý thức pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng nhà nƣớc Pháp quyền ở nƣớc ta hiện nay. 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 1.
KHÁI NIỆM Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ CẤU TRÚC CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT 1. Khái niệm và đặc điểm của ý thức pháp luật Ý thức pháp luật là một trong những bộ phận tạo thành nên đời sống pháp luật bên cạnh các lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật. Trong xã hội hiện nay, ý thức pháp luật giữ vai trò hết sức quan trọng đối với việc hình thành nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của con ngƣời. Do vậy các hoạt động của con ngƣời đều phải dựa vào ý thức của mình.
Các hành vi pháp luật, các mối quan hệ pháp luật của con ngƣời đều đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở tâm lý pháp luật, tƣ tƣởng pháp luật và quan điểm, quan niệm về pháp luật của con ngƣời thông qua các thời kỳ khác nhau. Vì vậy, việc thực hiện pháp luật của con ngƣời trong xã hội có liên quan chặt chẽ đến yếu tố tâm lý pháp luật và tƣ tƣởng pháp luật. Ý thức pháp luật là tổng thể những quan điểm, quan niệm về pháp luật, là tình cảm và tâm trạng của con ngƣời đối với pháp luật. Do vậy, ý thức pháp luật đƣợc hình thông qua những quan điểm, quan niệm của con ngƣời từ sự cần thiết phải có các quy tắc xử sự phù hợp.
Ý thức pháp luật ra đời, tồn tại và phát triển về từ nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định (đó là giai đoạn bắt đầu có sự phân chia về giai cấp), đó là khi các phƣơng tiện điều chỉnh xã hội nhƣ: đạo đức, tôn giáo, tập quán, niềm tin… không còn phù hợp nữa, nó không còn đủ khả năng để quản lý xã hội có hiệu quả. Lúc này cần phải có một công cụ mới ra đời, đó là pháp luật, để thiết lập ra một trật tự xã 13 hội mới ổn định, kỷ cƣơng. Từ nhu cầu khách quan này của đời sống xã hội, con ngƣời đã nhận thức đƣợc xã hội (đã phản ánh đƣợc tồn tại xã hội) và đã tạo nên ở họ những tƣ tƣởng, quan điểm, quan niệm về sự cần thiết phải điều chỉnh các quan hệ trong xã hội bằng pháp luật, một phƣơng tiện điều chỉnh hữu hiệu nhất. Về mặt Triết học, ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội, nó thuộc thƣợng tầng kiến trúc xã hội, nó chịu sự quy định của cơ sở kinh tế.
Tuy nhiên, ý thức pháp luật còn chịu sự ảnh hƣởng của các hình thái ý thức xã hội khác ở những mức độ khác nhau. Nhƣ vậy, ý thức pháp luật là sự phản ánh những điều kiện xã hội (vật chất, chính trị, lịch sử…), đó là những điều kiện cần phải đƣợc điều chỉnh bằng pháp luật, thông qua những quan điểm, quan niệm, tƣ tƣởng, học thuyết, tình cảm, tâm trạng và niềm tin pháp lý. Từ sự phân tích nhƣ trên, thì ý thức pháp luật có thể định nghĩa nhƣ sau: Ý thức pháp luật là tổng thể những tƣ tƣởng, học thuyết, quan điểm, thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con ngƣời về pháp luật trên các phƣơng diện, tiêu chí cơ bản nhƣ: Về sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò, chức năng của pháp luật, về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của các quy định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá khứ, pháp luật cần phải có. Về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của các cá nhân, nhà nƣớc, các tổ chức xã hội[49, tr.
Là một hình thái của ý thức xã hội, ý thức pháp luật cũng có đầy đủ những đặc điểm của ý thức xã hội sau đây: *. Ý thức pháp luật chịu sự quyết định của tồn tại xã hội. Nhƣ vậy ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, nó chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Vào các thời kỳ khác nhau thì thái độ, nhận thức, tình cảm, quan niệm, quan điểm của con ngƣời về pháp luật là do những điều kiện khách quan của các thời kỳ đó quy định.
Các Mác đã khẳng định: “ Không 14 phải ý thức của con ngƣời quyết định sự tồn tại của họ, trái lại chính sự tồn tại xã hội của họ, quyết định ý thức của họ” [3, tr. Tuy nhiên, tồn tại xã hội và ý thức pháp luật luôn có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời nhau. Ý thức pháp luật chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội, tồn tại xã hội có vai trò chi phối, quyết định ý thức pháp luật. Do đó khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức pháp luật cũng thay đổi theo.
Tồn tại xã hội nhƣ thế nào thì ý thức xã hội nhƣ thế ấy. Ví dụ, ý thức pháp luật của ngƣời dân trong thời kỳ phong kiến chịu sự quyết định và chi phối của các điều kiện nhƣ kinh tế, tập quán, đạo đức… hà khắc, bóc lột nhân dân nên ngƣời dân ở vào thời kỳ này họ thƣờng có tâm lý “Phép Vua thua lệ làng”, thờ ơ đối với pháp luật, chống đối và coi thƣờng pháp luật. Tuy nhiên trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc Pháp quyền XHCN nhƣ ở Việt Nam hiện nay, là “Nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân”, với một nền kinh tế thị trƣờng mở, quyền con ngƣời đƣợc đề cao đã có tác động mạnh đến ý thức pháp luật của mỗi công dân. Để đảm bảo quyền lợi cho mỗi công dân và để hội nhập thành công thì ý thức pháp luật của mỗi công dân đang ngày càng đƣợc nâng cao.
Ý thức pháp luật có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội Ý thức pháp luật luôn chịu sự chi phối của tồn tại xã hội, tuy nhiên nó luôn có tính độc lập tƣơng đối so với tồn tại xã hội, tính độc lập tƣơng đối này đƣợc thể hiện ở một số khía cạnh sau: Ý thức pháp luật thƣờng lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. Ý thức pháp luật là sự phản ánh tồn tại xã hội, nên tồn tại xã hội luôn là cái có trƣớc ý thức pháp luật. Do vậy, lịch sử đã cho thấy khi tồn tại xã hội cũ đã mất đi nhƣng ý thức xã hội (trong đó có ý thức pháp luật cũ) do nó sản sinh ra vẫn còn tồn tại dai dẳng trong một thời gian khá dài. Nhiều tƣ tƣởng, tâm lý, quan điểm, quan niệm và thói quen của quá khứ vẫn tồn tại trong nếp sống, suy nghĩ và hành động của nhiều ngƣời dân trong xã hội.
Ví dụ nhƣ tƣ duy “ tham gia giao 15 thông đi xe gắn máy công dân phải đội mũ bảo hiểm”, nhiều ngƣời dân hiện nay vẫn luôn có tƣ tƣởng cho rằng đội mũ bảo hiểm là để không bị công an xử phạt. Họ không cho rằng đội mũ bảo hiểm là tuân thủ pháp luật, là bảo vệ mình và ngƣời khác.Thái độ coi thƣờng, không tôn trọng pháp luật vẫn còn tồn tại. Hay hiện nay có nhiều ý kiến của nhân dân và dƣ luận cho rằng: việc phát hiện và xử lý các hành vi phạm pháp luật về chức vụ và tham nhũng chƣa tốt, trong đó chỉ có những ngƣời có chức vụ, quyền hạn mới có hành vi vi phạm này. Vậy phải chăng họ nghĩ rằng đối với những ngƣời này thì cần nƣơng tay.
Tỷ lệ các bị cáo trong lĩnh vực này đƣợc Tòa án tuyên cho hƣởng án treo còn nhiều, dẫn đến sự hoài nghi của quần chúng nhân dân và dƣ luận xã hội về tính nghiêm minh của pháp luật. Ý thức pháp luật trong những điều kiện nhất định có thể vƣợt trƣớc tồn tại xã hội. Trong những điều kiện xã hội nhất định, ý thức pháp luật có thể tồn tại cả những quan điểm, quan niệm về pháp luật vƣợt lên trƣớc sự phát triển của tồn tại xã hội và nó có tính chất định hƣớng cho sự phát triển của xã hội sau này. Ví dụ nhƣ quan điểm của các nhà tƣ tƣởng lớn trên thế giới Các Mác - Ăng ghen về các vấn đề triết học, chính trị, pháp lý những tƣ tƣởng này đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị về thời đại.
Tính kế thừa của ý thức pháp luật trong quá trình phát triển. Trong quá trình phát triển của mình, ý thức pháp luật luôn giữ lại những tƣ tƣởng, quan điểm pháp lý của các thời kỳ trƣớc. Đặc biệt nếu là những tƣ tƣởng, quan điểm tiến bộ thì nó sẽ tạo điều kiện cho xã hội phát triển, cho nền chính trị, pháp lý đƣợc hoàn thiện và ngƣợc lại sẽ cản trở những nhân tố tích cực trong xã hội phát triển. Ví dụ nhƣ tƣ tƣởng “phân chia quyền lực” của Arixtôt từ thời cổ đại là một trong những tƣ tƣởng tiến bộ và nó có sự ảnh hƣởng sâu sắc tới tƣ tƣởng chính trị, pháp lý ngày nay.
Sự tác động trở lại của ý thức pháp luật đối với tồn tại xã hội và tác động qua lại đối với các hình thái ý thức xã hội khác. 16 Ý thức pháp luật có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội theo hai hƣớng tích cực và tiêu cực, nó có sự tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội. Nếu chúng ta có sự nhận thức đúng đắn, có tình cảm, niềm tin và tôn trọng pháp luật sẽ giúp hạn chế đƣợc tình trạng vi phạm pháp luật, tạo ra một trật tự xã hội ổn định và phát triển, giúp cho xã hội phát triển toàn diện về mọi mặt (kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học…). Ngƣợc lại, nếu chúng ta nhận thức không đúng về pháp luật, coi thƣờng pháp luật, không tin tƣởng vào pháp luật sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật, trật tự xã hội sẽ rơi vào tình trạng bất ổn, đồng thời ảnh hƣởng đến mọi mặt của đời sống chính trị, pháp lý.
Ý thức pháp luật cũng có tác động qua lại đối với các hình thái ý thức xã hội khác, bao gồm ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức văn hóa… Sự tác động này có thể là tích cực hoặc tác động tiêu cực tùy thuộc vào từng lĩnh vực và giai đoạn cụ thể.