CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN – ĐỒNG NAI [9]: 1.1 Điều kiện địa hình, địa mạo a) Vị trí địa lý Lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai được giới hạn trong tọa độ: 10o20’ – 12o20’ vĩ độ Bắc; 105o45’ – 109o15’ kinh độ Đông, phía Đông Nam của vùng giáp biển Đông, phía Tây Bắc giáp các tỉnh miền núi, cao nguyên. Hệ thống sông Đồng Nai là hệ thống sông nội địa lớn nhất Việt Nam, có chiều dài 635km, bao gồm: sông Đồng Nai và 4 phụ lưu lớn là sông La Ngà (bờ trái), sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ (bờ phải). Lưu vực sông Đồng Nai bao gồm miền Đông Nam Bộ, tỉnh Lâm Đồng một phần các tỉnh Đắc Lắc, Bình Thuận và Long An, có tổng diện tích 37,400km2 và dân số khoảng trên 12.7 triệu người. Vùng hạ du sông Sài Gòn bao gồm cả sông Vàm Cỏ Đông, hạ lưu Trị An (sông Đồng Nai), hạ lưu Dầu Tiếng (sông Sài Gòn).
Đây là địa bàn phát triển kinh tế năng động vào bậc nhất nước với khu tam giác kinh tế trọng điểm phía Nam.1 Bản đồ lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai (nguồn: Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam [9] ) Trang 3 b) Đặc điểm về địa hình, địa mạo: Quá trình hình thành địa hình, địa mạo sông Sài Gòn – Đồng Nai như sau: Trước biển tiến lần cuối (biển tiến Flandier – Holoxen) giữa (Q2IV) là giai đoạn hình thành và hoàn thiện kiểu đồng bằng tích tụ Aluvi. Các quá trình xâm thực – bóc mòn – tích tụ đã xảy ra mạnh mẽ, để lại các dạng địa hình đồi, gò khối sét, thềm sông,…cùng với hệ thống sông cổ và hiện đại. Trong biển tiến lần cuối, đồng bằng bị tràn ngập, các quá trình mài mòn – tích tụ và san bằng đã cải tạo lại bề mặt của địa hình, tạo nên đồng bằng tích tụ biển Haloxen giữa (m Q2IV). Sau biển tiến lần cuối, đồng bằng Delta ven biển được phát triển và lấn dần ra biển bằng phương pháp tích tụ rừng lầy, tích tụ hỗn hợp sông biển.
Đồng bằng tích tụ ngầm dạng lấp đầy vùng vịnh và đồng bằng tích tụ - mài mòn do sóng và dòng chảy. Sông Đồng Nai chảy vào tỉnh Đồng Nai ở bậc địa hình thứ ba và là vùng trung lưu của sông. Đoạn từ ranh giới của Đồng Nai – Lâm Đồng đến cửa sông Bé (Tân Uyên) sông chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam sau đó chuyển hướng sang Tây Bắc – Đông Nam. Địa hình lưu vực đoạn trung lưu sông Đồng Nai, như trên đã nói không còn phức tạp lắm tuy đoạn Tà Lài đến Trị An còn có thác ghềnh.
Đoạn từ sau công trình thủy điện Trị An chỉ còn một vài ghềnh đá, giao thông thuận tiện, lòng sông mở rộng và sâu. Các phụ lưu lớn của sông Đồng Nai đó là sông La Ngà ở đầu hồ Trị An, sông Bé đổ vào sông Đồng Nai sau đập Trị An thuộc tỉnh Đồng Nai. Như vậy, sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, phần trung và hạ du đi qua địa hình bậc thềm của Đông Nam Bộ, trong đó gồm 2 kiểu chủ yếu là địa hình nâng bóc tròn xâm thực (phần trung du) và địa hình hạ tích tụ (phần hạ du). Đoạn sông trung du chảy trên địa hình nâng bóc tròn có đặc điểm địa mạo rõ nét gồm các bãi bồi, thềm tích tụ và thềm xâm thực, chúng phân bố xen kẽ dọc theo thung lũng và dòng sông.
Đoạn sông ở đây, ngoài dòng chảy chính còn có các chi lưu đưa nước hợp lưu vào dòng chính. Trang 4 Đoạn sông hạ du chảy trên địa hình hạ tích tụ có cảnh quan hoàn toàn khác. Do chảy trên địa hình thấp, trũng, bằng phẳng, gần ngang với mực thủy chuẩn (mực nước biển Đông), địa hình thay đổi từ cao trình 0.5m, do đó hầu như sông có địa hình bậc thềm sông, mà chỉ có bãi bồi, bãi lầy, với mạng lưới dày đặc các nhánh phân rẽ dòng chảy, đóng vai trò mang nước của dòng chảy chính. Vùng cửa sông Đồng Nai thuộc kiểu đồng bằng Estuary hiện đại, nằm trong vùng tân kiến tạo, lún sụt, với nền địa chất nham vụn bở đệ tứ, bồi tích biển Đông, hình thành trong một vịnh cũ rộng, với tập hợp các dạng địa hình bồi tụ của sông lớn (đói phù sa) nhiều triền bãi cũ.
Các dạng tiểu địa hình, vi địa hình hầu hết là sản phẩm của các quá trình sông biển gồm có: các đồng bằng trầm tích biển sông, sông biển, các giồng, đụn ven sông biển, các bưng, trũng, đầm lầy và phổ biến là các bãi triều, rạch, lạch triều. Từ các biểu thống kê đặc trưng hình thái lưu vực các sông trong lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai cho thấy: - Độ cao nguồn sông, độ cao lưu vực, độ dốc bình quân lưu vực, độ dốc lòng sông…của sông Đồng Nai đều lớn hơn sông Sài Gòn. Sông Đồng Nai dốc hơn sông Sài Gòn. - Do đó công trình thủy điện Trị An đã tạo nên sự hoạt động của sông Đồng Nai với thế nước cao gấp bội so với thế nước tự nhiên 62m ÷ 64m và so với sông Sài Gòn.
- Địa hình sông Đồng Nai từ sau công trình thủy điện Trị An đến ngã ba hợp lưu với sông Sài Gòn: lòng sông quanh co với nhiều đoạn mở rộng, co hẹp (B=200m ÷ 800m), nhiều đoạn sông phân lạch được liên kết bởi các đoạn sông thẳng. Trong lòng sông hình thành nhiều cù lao (cù lao Rùa, cù lao Phố, cù lao Ba Xê Ba Xang, đoạn phân lạch Long Phước, cù lao Ông Cồn). - Cao trình đáy sông biến đổi phức tạp nhiếu hố xói và bãi bồi, đặc biệt nhiều hố xói có cao trình ≥ (-20m), nhiều đoạn sông hẹp và sâu. Cao trình (-20.10m) khu vực Trang 5 đình thần Tân Hạnh, (-20.50m) khu vực thượng lưu cầu Đồng Nai, (-30m) khu vực cuối cù lao Ba Xang, (-40m) khu vực thượng lưu phà Cát Lái… - Mặt cắt ngang lòng sông có hình dạng phức tạp, không chuẩn tắc.
- Địa hình lòng sông Sài Gòn tính từ sau hồ Dầu Tiếng đến ngã ba hợp lưu sông Đồng Nai (ngã ba Đèn Đỏ): + Lòng sông quanh co uốn khúc liên tiếp. Lòng sông mở rộng từ từ ra đến cửa sông (ngã ba Đèn Đỏ) theo sự gia tăng của lưu lượng nước, không có sự đột biến, rộng từ 200m ÷ 400m. + Đáy sông biến đổi nhấp nhô theo dạng sóng, vực sâu và ghềnh cạn phân bố có quy luật, đáy sông biến đổi từ (-10m) ÷ (-30m), lòng sông rộng từ 200m ÷ 400m. - Địa hình sông Nhà Bè: sông Nhà Bè được xem là sông Mẹ (sông Cái) dài 9km là bồn chứa lượng dòng chảy thượng nguồn từ sông Đồng Nai và sông Sài Gòn trước khi đổ ra biển qua 2 cửa Lòng Tàu và Soài Rạp, đồng thời cũng là bồn chứa lượng dòng chảy thủy triều truyền từ biển qua 2 cửa sông Lòng Tàu và Soài Rạp trước khi truyền lên thượng nguồn qua 2 sông Sài Gòn và Đồng Nai.
Sông Soài Rạp có kích thước lớn, bán kính cong lớn, lòng sông rộng B=500m ÷ 1600m, đáy sông biến đổi từ cao trình (-10m) ÷ (-32m). Địa hình lòng sông ra đến biển là phẳng và có xu hướng tăng cao dần ra phía biển. Sông Đồng Nai từ mũi Nhà Bè phân thành 2 chi lớn là sông Lòng Tàu và sông Soài Rạp: - Địa hình sông Lòng Tàu – Ngã Bảy: lòng sông hẹp, sâu, quanh co, uốn khúc, hai bên bờ sông có nhiều phân, nhập lưu với dạng lạch triều, hình thành một mạng lưới sông kênh cong chằng chịt đặc thù, trong đó sông Lòng Tàu rộng B=380m ÷ 600m, sông Ngã Bảy rộng B=700m ÷ 900m. Cao độ đáy sông Lòng Tàu – Ngã Bảy biến đổi nhấp nhô, phức tạp với biên độ lớn: sông lòng Tàu ∆hmax=19m, sông Ngã Bảy ∆hmax=22m.
Trang 6 - Địa hình sông Soài Rạp: sông Soài Rạp với chiều dài khoảng 49km (tính từ cửa sông đến Nhà Bè), đây là tuyến sông cong, cách cửa sông 20km hợp lưu sông Vàm Cỏ, ra đến biển Đông là đoạn sông thẳng. Sự gia nhập của sông Vàm Cỏ gây bồi lắng bùn cát tạo nên bar chắn ở cửa sông Soài Rạp với cao trình (-8m), ảnh hưởng đến sự truyền triều, thoát lũ và giao thông thủy.2 Điều kiện địa chất, thổ nhưỡng a) Đặc điểm về cấu trúc địa chất Lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai nằm trong khu vực ảnh hưởng của cấu trúc Nam Trung Bộ, là một miền nâng và cấu trúc Tây Nam Bộ là một miền sụt trong Kanojoi. Hai hệ thống đứt gãy sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ Đông mang tính chất khu vực phân định các miền cấu trúc nêu trên. Hai hệ thống đứt gãy có phương Tây Nam – Tây Bắc – Đông Nam.
Song song với hệ thống đứt gãy này còn có hệ thống đứt gãy cấp 2, sông Sài Gòn hình thành trong hệ thống đứt gãy này. Như vậy sông nhánh Sài Gòn và sông chính Đồng Nai nằm ở các hệ thống đứt gãy thuộc các cấp khác nhau và các hệ thống đứt gãy làm cho cấu trúc của máng có dạng bậc thang. Hai hệ thống đứt gãy tạo nên một mạng lưới các khối âm và khối dương khác nhau. Trong đó các khối mang đặc điểm dương gồm: Củ Chi, cầu Bông, Thị Nghè.
Các khối mang đặc điểm âm gồm: Nhà Bè, Bình Chánh, Cần Giờ. b) Đặc điểm địa chất công trình: Dựa vào nguồn gốc và các đặc trưng địa chất công trình có thể tạm phân làm 3 vùng: - Vùng bồi tích thềm sông cổ. - Vùng bồi tích thềm sông mới và lòng sông ở trung du. - Vùng bồi tích thềm sông mới và lòng sông ở hạ du.
Riêng vùng bồi tích thềm sông mới và lòng sông ở hạ du như phần đặc điểm chung của vùng hạ du là một lòng sông mở rộng, chiều rộng của thềm sông trung bình Trang 7 từ 5km ÷ 7km, chiều dày của tầng bồi tích thềm sông mới có khi tới 50m chia thành 2 lớp: - Lớp trên là tầng sét bùn dày tới 20m. - Lớp dưới là sét mịn có xen thấu kính sét dẻo. Đáy sông là cát mịn kẹp các thấu kính sét bùn khá dày. Đặc điểm của lớp sét bùn là lượng ngậm nước khá cao, dung trọng khô thấp, độ rỗng cao, độ bền cấu trúc kém, hệ số nén lún cao.
Lớp sét dẻo nằm dưới có lượng ngậm nước thấp, dung trọng khô cao hơn, độ bền cấu trúc lớn hơn. Tuy có đặc điểm trên nhưng lớp sét dẻo này chưa thể xếp vào tầng bồi tích cổ mà có nhiều khả năng thuộc các thềm cổ của sông Sài Gòn.