phần mở đầu giới thiệu lý do chọn đề tài và mục tiêu của luận văn. Chương 2 trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài và cũng giới thiệu sơ lược về vật liệu chức năng. Chương 3 trình bày cơ sở ly thuyết, xây dựng các mối quan hệ giữa chuyển vị, biến dạng của dầm, và các thông số liên quan tới ứng xử của dầm thông qua các biểu thức năng lượng, từ đó xây dựng phương trình chuyển động, cuối chương giới thiệu phương pháp số để phân tích bài toán dao động tự do và giải phương trình động lực học. Chương 4 là các ví dụ số, khảo sát sự hội tụ của bài toán, so sánh với các nghiên cứu của tác giả khác để kiểm chứng độ chính xác của phương pháp và chương trình Matlab trong luận văn.
Ngoài ra sự ảnh hưởng của các thông số bài toán như hệ số phân bố vật liệu, tỉ số giữa chiều dài và chiều cao tiết diện, vận tốc di chuyển của vật di động và khối lượng của vật di động đến chuyển vị và nội lực của dầm cũng được phân tích chi tiết trong chương này. Chương 5 trình bày những kết luận của luận văn và hướng phát triển đề tài. Kế đến là các tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài luận văn. Cuối cùng là phần phụ lục trình bày các chương trình tính được viết bằng ngôn ngữ lập trình Matlab.
6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 GIỚI THIỆU Chương này giới thiệu sơ lược về khái niệm và khả năng ứng dụng của vật liệu phân lớp chức năng (FGM) trong thực tiễn. Phần lớn nội dung chương này tập trung vào giới thiệu tổng quan về tình hình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước có liên quan mật thiết đến luận văn này. Các yếu tố cơ bản thường được đề cập trong bài toán dầm cũng được giới thiệu. Sự khác biệt giữa yếu tố luận văn và các nghiên cứu trước đó được so sánh cụ thể trong phần cuối chương này.2 GIỚI THIỆU VỀ VẬT LIỆU PHÂN LỚP CHỨC NĂNG 2.1 Khái niệm và đặc tính Vật liệu phân lớp chức năng hay còn gọi là vật liệu có cơ lý tính biến đổi, là vật liệu composite với tên quốc tế là Functionally Graded Material và được viết tắt là FGM, có ba loại vật liệu phân lớp chức năng chủ yếu.
Vật liệu P-FGM. Trong đó các thành phần ceramic và kim loại phân bố tuyến tính qua chiều dày thành kết cấu, một bề mặt giàu ceramic và một bề mặt giàu kim loại. Tỷ lệ thể tích của các thành phần vật liệu được giả thiết biến đổi theo chiều dày thành kết cấu theo một hàm lũy thừa của biến chiều dày. Vật liệu S-FGM.
Kết cấu được bao bọc bởi các mặt ngoài giàu ceramic và mặt giữa giàu kim loại (hoặc ngược lại, hai mặt bên giàu kim loại với mặt giữa là gốm), tâm 7 đối xứng gốm-kim loại-gốm. Tỷ lệ thể tích của các thành phần kim loại và ceramic được giả thiết biến đổi theo quy luật hàm lũy thừa của biến chiều dày theo quy luật hàm Sigmoid (sử dụng quy luật hàm mũ cho 2 miền). Vật liệu E-FGM. Trong vật liệu loại E -FGM thì Mô đun đàn hồi của loại vật liệu chức năng này được giải thiết tuân theo quy luật hàm siêu việt (hàm mũ).
Thành phần ceramic với mô đun đàn hồi cao và các hệ số dãn nở nhiệt và truyền nhiệt rất thấp làm cho vật liệu chức năng có độ cứng cao và rất trơ với nhiệt. Trong khi đó thành phần kim loại làm cho vật liệu chức năng có tính dẻo dai, khắc phục sự rạn nứt nếu có xảy ra do tính dòn của ceramic và trong môi trường nhiệt độ cao. Các tính chất hiệu dụng của vật liệu chức năng được biến đổi qua chiều dày thành kết cấu từ một mặt giàu ceramic đến mặt giàu kim loại để phù hợp với chức năng của từng thành phần vật liệu. Đặc tính nổi bật của vật liệu chức năng là có độ cứng rất cao và khả năng kháng nhiệt xuất sắc.2 Vật liệu phân lớ p chức năng trong tự nhiên Thiên nhiên luôn mang đến cho nhà khoa học một cách giải quyết bất cứ khi nào họ đối mặt với vấn đề công nghệ.
Các nhà khoa học đã sao chép khái niệm này để giải quyết một số vấn đề của thế giới. Thay đổi cấu trúc có ba loại. Biến đổi vi cấu trúc bằng cách thay đổi hình dạng hay chiều dầy. Ví dụ: cây tre, vỏ sò… 2.
Thay đổi kích thước. Ví dụ thân cây hay lông chim. Kết hợp của hai dạng trên như xương người và động vật.1 Sự thay đổi mật độ thể tích của thân tre ( nguồn worldbamboo.2 sự thay đổi kích thước của thân cây [27].3 Cấu tạo xương động vật [27] 9 2.3 Vật liệu phân lớ p chức năng nhân tạo Thông thường, vật liệu này là sự cấu thành của vật liệu gốm (ceramic) và vật liệu kim loại (metal). Một mặt thường là giàu kim loại trong khi mặt còn lại thường là giàu ceramic.
Phần vật liệu kim loại đóng vai trò chống đỡ kết cấu trong khi vật liệu gốm (ceramic) có khả năng kháng lại nhiệt độ khi chịu nhiệt độ khắc nghiệt. Do sự biến đổi liên tục về vật liệu thông qua thuộc tính vật liệu và quan trọng hơn nữa là sự thay đổi thuộc tính vật liệu có thể tạo ra các công năng để phù hợp với các ứng dụng khác nhau. Các vật liệu composite thường được tổ hợp từ hai pha vật liệu khác nhau, có tính chất rất khác nhau. Vật liệu composite lớp được sử dụng phổ biến, những lớp vật liệu đàn hồi đồng nhất gắn kết với nhau nhằm nâng cao đặc tính cơ học.
Tuy nhiên, sự thay đổi đột ngột đặc tính vật liệu tại mặt tiếp giáp giữa các lớp dễ phát sinh ứng suất tiếp xúc lớn tại mặt này gây tách lớp. Một trong những giải pháp khắc phục nhược điểm này của vật liệu composite là sử dụng vật liệu phân lớp chức năng – Functionally Graded Materials (FGM). Vật liệu chức năng – FGM- là một loại composite mà đặc tính mà các đặc tính vật liệu biến đổi lien tục từ mặt này sang mặt khác do đó làm giảm ứng suất tập trung thường gặp trong các loại composite lớp. Sự thay đổi dần dần được tính của vật liệu sẽ làm giảm ứng suất nhiệt, ứng suất tập trung và ứng suất dư.
Vật liệu chức năng là một tổ hợp các thành phần vật liệu khác nhau gọi là các Maxel (thép, Mg2Si, gốm, Ni, Co, Al…) phân bố trong không gian khối vật liệu theo một trật tự nhất định. Bằng cách bố trí các thành phần hợp nhất theo một hướng thống nhất, các thành phần này là các vật liệu ở thể không đồng nhất cực nhỏ và được làm từ các thành tố đẳng hướng như kim loại, gốm nên vật liệu phân lớp chức năng dễ tạo ra các kết cấu tấm, vỏ được ứng dụng ở những nơi có sự thay đổi nhiệt độ lớn đảm bảo ổn định hình dạng, chịu va chạm, mài mòn hay rung động. 10 Hình thức chuyển đổi vật liệu từ kim loại (metal) sang gốm (ceramic) bằng cách tăng dần về phân trăm của pha vật liệu gốm hiện diện trong kim loại cho đến phần trăm đạt được tức là vật liệu giàu gốm (ceramic) được thể hiện như hình b ên dưới.4 Sự phân bố theo hướng thành phần chịu nhiệt trong FGM [27]. Ứng dụng của FGM FGM là vật liệu tương đối mới và đang được nghiên cứu để sử dụng trong các ứng dụng nhiệt độ cao.
Kể từ khi được giới thiệu, FGM được nghiên cứu ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực .Các ứng dụng của vật liệu FGM như sau: Lĩnh vực hàng không vũ trụ: FGM được ứng dụng rộng trong lĩnh vực này như dùng chế tạo các bộ phận của máy bay, kết cấu vũ trụ, các lò phản ứng hạt nhân, cách nhiệt cho các kết cấu làm mát, vỏ bọc hàng không vũ trụ, động cơ tên lửa… Lĩnh vực kỹ thuật: các ứng dụng thường gặp như lưỡi tua bin, trục, công cụ cắt, Lĩnh vực quang học: như cáp quang, ống kính… Lĩnh vực điện tử như cảm biến… Lĩnh vực y học: như da nhân tạo, chân tay giả… 11 Hàng hóa: như vật liệu xây dựng, dụng cụ thể thao, xe ôtô… Hình 2.5 Lĩnh vực kỹ thuật ( nguồn khoahoc.6 Lĩnh vực y học ( nguồn engineering.7 Lĩnh vực xây dựng ( nguồn newsclick.3 SƠ LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Ngoài nước Kết cấu làm bằng vật liệu FGM đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới kể cả trong lĩnh vực xây dựng thông qua ứng xử của tấm và d ầm FGM. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện phân tích các ứng xử tĩnh và ứng xử động của kết cấu bằng vật liệu FGM. Ngoài ra vấn đề kết cấu chịu tải trọng chuyển động cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm. Tải trọng di động là vấn đề thường gặp trong động lực học công trình.
Ngiên cứu tải trọng di động có ý nghĩa quan trọng đến lĩnh vực giao thông. Ví dụ các kết cấu chịu khối lượng di động như cầu, dầm cầu trục, đường cáp treo, đường ray, đường bộ, đường bộ, đường băng, đường hầm… Có nhiều nghiên cứu về ứng xử động của cầu đường sắt, cầu đường bộ chịu tải trọng di động. Kết cấu dầm chịu được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực kỹ thuật xây dựng, máy móc và hang không vũ trụ. Vì tính thực tế này cũng được đưa vào nghiên cứu các kết cấu bằng vật liệu FGM.
13 Chakraborty và cộng sự [1] đã giới thiệu một mô hình phần tử mới dựa trên lý thuyết biến dạng trược bậc nhất để phân tích ứng xử nhiệt của dầm FGM có đặc trưng hữu hiệu của vật liệu phân phối theo quy luật hàm số mũ (exponential law) và quy luật lũy thừa với hệ số mũ k (power law). Các hàm chuyển vị được xấp xỉ bằng các hàm đa thức. Metin và các cộng sự nghiên cứu dao động tự do của dầm phân lớp chức năng FGM. Reddy [2] đã trình bày lý thuyết sử dụng nghiệm Navier và phương pháp phần tử hữu hạn để phân tích tấm chữ nhật bằng FGM dựa trên lý thuyết biến dạng trượt bậc ba của tấm.
Mô đun đàn hồi của tấm được giả thuyết thay đổi theo chiều dày của tấm theo quy luật hàm mũ. Đặc tính cơ nhiệt, phụ thuộc vào thời gian, và phi tuyến hình học Von- Karman được đề cập đến. Kết quả số tuyến tính lý thuyết biến dạng trượt bậc ba và phi tuyến của biến dạng trượt bậc nhất được trình bày cho thấy sự ảnh hưởng của đặc trưng phân bố vật liệu lên biến dạng và ứng suất của tấm.