Chương 1 MOT SÓ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE THUONG NGHIỆP TƯNHÂN TRONG BOI CẢNH HỘI NHẬP KINH TE QUOC TE 1. Khái niệm và các loại hình thương nghiệp tư nhân 1. Khái niệm thương nghiệp tư nhân và sự phát triển thương nghiệp tư nhân ở nƯỚc ta. Khái niệm thương nghiệp tư nhân.
Có thể nói, sự hình thành và phát triển các thành phần kinh tế trong lĩnh vực thương mại đo đòi hỏi tất yêu của nền kinh tế hàng hoá, nhất là kinh tế thị trường - giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá.Ăngghen đã khẳng định hai “chức năng” sản xuất và trao đổi là “đường hoành và đường tung của đường cong kinh tế”. Vì giữa sản xuất và trao đổi (thương mại) có quan hệ hữu cơ trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sự tác động qua lại giữa sản xuất và trao đổi không dừng lại ở quy mô, mà còn tác động đến trình độ phát triển của nhau cả về mặt quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Trong một nền kinh tế, lưu thông (trao đồi) là một yếu tố, một giai đoạn quá độ của sản xuất; lưu thông chỉ đơn thuần là sự thực hiện sản phâm đã được sản xuất ra với tư cách là hàng hóa và sự thay thế các yếu tố sản xuất để tiếp tục sản xuất với tư cách là hàng hóa.
Nhưng trong quá trình đó lưu thông lại trực tiếp làm xuất hiện một hình thái mới, đó là hoạt động thương nghiệp. Xét bề ngoài tưởng như lưu thông tách biệt với sản xuất, nhưng thực chất lưu thông nói chung, hoạt động thương nghiệp nói riêng chỉ là một trong các khâu của quá trình tái sản xuất. Ở mỗi trình độ khác nhau, hoạt động thương nghiệp trong các nền kinh tế cũng khác nhau. Khi nền sản xuất ở trình độ thấp, nhỏ lẻ, phân tán thì hoạt động trao đổi còn hạn chế ở phạm vi hẹp, hoạt động thương nghiệp cũng còn ở tình trạng manh mún với quy mô nhỏ.
Khi trình độ xã hội hóa sản xuất cao thì đòi hỏi thương nghiệp cũng phải được xã hội hóa với trình độ tương ứng. Sản xuất hàng hóa càng phát triển cao thì quá trình trao đổi càng mở rộng và ngược lại sự mở rộng và phát triển quá trình trao đổi sẽ là động lực thúc day sự phát triển của sản xuất. Cũng như các nền kinh tế khác, thời kỳ đầu của nền kinh tế hàng hoá ở nước ta sản phẩm thặng dư chưa nhiều nên hoạt động thương nghiệp chủ yếu là do tư nhân thu gom những sản phẩm thừa của những người sản xuất nhỏ như nông dân và thợ thủ công. Do vậy hiệu quả của hoạt động thương nghiệp còn rất thấp.
Nhung sự tồn tại của hoạt động thương nghiệp đã làm cho sản xuất tách biệt tương đối với trao đổi, làm cho sản xuất ngày càng có tính chất trao đổi, nên nó có tác dụng thúc đầy quá trình tan rã những quan hệ sản xuất tự cung tự cấp. Khi sản xuất hàng hoá phát triển thì hình thức thương nghiệp do tư nhân thực hiện vẫn còn tồn tại nhưng nó khác về cơ cấu, quy mô, mô hình tổ chức và phương thức kinh doanh. và cũng có sự khác nhau giữa các nền kinh tế. Tuy nhiên vẫn có đặc điển chung về thương nghiệp tư nhân đó là loại hình kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông, dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về vốn và các điều kiện kinh doanh.
Điều kiện tổn tại của thương nghiệp tư nhân, theo Mác, là sự tồn tại của lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ. Theo sự phát triển kinh tế, kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp dưới các tác động của thị trường và yêu cầu không ngừng mở rộng thị trường. Vì vậy, hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp không chỉ đơn thuần bao gồm các hoạt động mua và bán thuần tuý mà còn được mở rộng thêm với các công đoạn có liên quan đến quá trình thúc đẩy nhanh việc mua bán hàng hóa. Đến nay, dé thực hiện quá trình lưu thông thuận lợi, các chủ thể kinh doanh thương nghiệp buộc phải thực hiện nhiều hoạt động trước và sau hoạt động mua, bán như: xúc tiến thương mại (quảng cáo, đại diện thương mại, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hóa.), gia công, chế biến, đóng gói hàng hóa, dịch vụ sau bán hàng (bảo hành, bảo du@ng.
Vì vay, đã xuất hiện thuật ngữ mới thay thế cho thuật ngữ thương nghiệp đó là thương mại. Thương mại ngày nay được hiểu là ngành kinh tế có chức năng tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ; thực hiện chức năng tiếp tục sản xuất trong khâu lưu thông, gắn sản xuất với thị trường. Hiện nay, tư nhân đầu tư vào nhiều lĩnh vực của khu vực kinh tế trong đó có thương mại. Hoạt động của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại được thực hiện dưới hình thức thương mại tư nhân, cho nên có thé hiểu ¿ương nghiệp tư nhân là hình thức vận động của nên kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương nghiệp dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về vốn và các điều kiện kinh doanh.
Sự phát triển cia thương nghiệp tư nhân 6 nước ta. Trước đây, hoạt động thương nghiệp ở nước ta chủ yếu do thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán năm giữ tỷ trọng lớn trên thị trường. Bộ phận thương nghiệp tư nhân chủ yếu hoạt động ở thị trường “ngầm”. Thời kỳ trước đổi mới (1986), ở nước ta có gần 5000 doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh, được phân bố khắp các địa bàn và kinh doanh mọi ngành hàng; lực lượng lao động rất lớn, khoảng 442,2 nghìn người.
Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như vốn của những doanh nghiệp này hoàn toàn được Nhà nước bao cấp. Tuy nhiên, cơ chế tập trung bao cấp đó đã làm cho các doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh rơi vào tình trang i lại, làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả. Để sắp xếp và đổi mới lại hoạt động của doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh, ngày 7/3/1994 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 90/TTg, sau đó đến tháng 5/1995 cả nước chỉ còn 1351 doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh. Số này so với 4700 doanh nghiệp năm 1991 đã giảm trên 3000 doanh nghiệp.
Trước thời kỳ đổi mới doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh chiếm ưu thế và giữ vai trò chỉ phối (nắm trọn bán buôn, chỉ phối 80% tổng mức bán lẻ xã hội), nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại các hình thức thương nghiệp tư nhân, chỉ có điều khi đó thương nghiệp tư nhân là đối tượng cần “cải tạo” hoặc bị phủ nhận. Vai trò của thương nghiệp tư nhân chỉ được nhìn nhận đúng khi Đảng ta có chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phan, trong đó khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế tư nhân nói chung và thương nghiệp tư nhân nói riêng như sau: Sau khi nước nhà giành được độc lập, ngày 13/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công - thương phải hoạt động dé xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công — Thương trong cuộc kiến thiết này” [27; 49] Ngày 17/3/1949, Liên Bộ kinh tế - Nội vụ có văn bản số 27/NV-KT “Nguyên tắc căn bản là tự do kinh đoanh.
Trong hoàn cảnh hiện tại nguyên tắc ấy càng cần được tôn trọng và những hoạt động kinh doanh tư nhân đang giữ một vai trò quan trọng trong điều hoà, phân phối giữa các vùng” [21; 3] Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951), xác định: Xây dựng kinh tế quốc dân cần có tư bản. Giai cấp tư sản dân tộc cần và có thể góp phần vào việc phát triển công thương nghiệp nước nhà. Sau ngày miền Bắc giải phóng (1954), Chính phủ tiếp tục cho thực thi các chính sách đã áp dụng trong vùng kháng chiến đối với các vùng mới giải phóng. 10 Ngày 30/3/1955, Chính phủ ban hành Nghị định quy định các doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký kinh doanh, trong đó phải kê khai về vốn, lượng công nhân, mặt hàng sản xuất, nguồn nguyên liệu, doanh số, lãi,.
Ngày 19/4/1957, Chính phủ ban hành sắc lệnh chống đầu cơ tích trữ. đây là văn bản pháp lý dé Nhà nước có quyền kiểm kê, khám xét, đánh thuế, tịch thu những kho hàng hoá tồn kho của tư nhân. Tháng 9/1957, Trung ương Đảng công bố chủ trương cải tạo tư doanh ở miền Bắc. Đến tháng 1/1958 thành lập Ban cải tạo công thương nghiệp tư doanh trực thuộc Trung ương Đảng.
Công việc cải tạo tư doanh bắt đầu từ đó và kết thúc vào tháng 9/1960 với 3065 doanh nghiệp trong đó có 1794 doanh nghiệp thương nghiệp. Từ năm 1960 đến năm 1975 ở miền Bắc kinh tế tư nhân không được thừa nhận. Trên thực tế nó vẫn còn tồn tại buôn bán nhỏ lẻ, chủ yếu bộ phận kinh tế này hoạt động “ngầm”, hoạt động chui. Sau ngày miền Nam giải phóng, Nghị quyết số 254/NQ-TW của Đảng thừa nhận kinh tế miền Nam là kinh tế nhiều thành phan trong đó tư bản tư nhân là thành phần hợp pháp.
Nhưng đến 16/2/1978 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 15/TTg xem việc “xoá bỏ kinh tế tư nhân là vấn đề nóng bỏng trước mắt cần tập trung sức càng sớm càng tốt”, phương thức cải tạo được tiến hành tương tự như đối với tư bản tư nhân miền Bắc những năm 1957 — 1960. Ngày 23/3/1978, chiến dịch bắt đầu với phương châm: bí mật, bất ngờ cùng một lúc hầu như tất cả các cơ sở kinh doanh tư nhân ở miền Nam đều được lệnh kiểm kê tài sản và học tập cải tạo, trong đó có 31681 cơ sở quốc hữu hoá. Hai năm sau, ngày 17/6/1980, Ban Bí thư có văn bản đánh giá về kết quả của công cuộc cải tạo: Năng lực sản xuất của phần lớn các xí nghiệp sau cải tạo chưa được sử dụng tốt, năng suất lao động thấp kém, hiệu quả kinh tế giảm. Tài sản thu được qua cải tạo bị hư hỏng, mat mát nhiều.
Đời sống công nhân gặp nhiều khó 11 khăn. Tình trạng hoài nghỉ, chán nản và bat mãn khá phỏ biến gây nên sự căng thăng không cần thiết. Sau thời gian đó Trung ương Đảng có chủ trương “cởi trói cho sản xuất kinh doanh và cho phép “bung ra”, và Nghị quyết 40 cho phép nới lỏng xuất khẩu, Nghị quyết 25/CP ngày 21/1/1981 cho phép doanh nghiệp nhà nước được liên kết với các thành phần khác,.