CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1. Khái quát về dịch vụ viễn thông 1. Khái niệm dịch vụ viễn thông Có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ nhưng ta có thể đưa ra một quan điểm chung nhất về dịch vụ như sau: Dịch vụ là những hoạt động lao động tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Bất kì một tổ chức sản xuất dịch vụ nào cũng đều hình thành những hệ thống cung ứng về dịch vụ của mình, không có các hệ thống này thì không thể có dịch vụ. Mỗi một loại dịch vụ cụ thể đều gắn liền với một hệ thống cung ứng nhất định. Hệ thống này lại gắn kết với những ý tưởng chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp với mức độ cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Chính vì vậy, khi đề cập đến dịch vụ không thể không nói đến hệ thông cung cấp dịch vụ.
Hệ thống cung ứng dịch vụ bao gồm các yếu tố: Vật chất và con người được tổ chức chặt chẽ theo một hệ thống phối hợp hướng tới khách hàng nhằm đảm bảo thực hiện quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ một cách hiệu quả. Các yếu tố trong hệ thống bao gồm: Khách hàng, cơ sở vật chất cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ, người cung ứng dịch vụ, hệ thống tổ chức nội bộ và bản thân dịch vụ. Các yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống. Nếu có sự thay đổi một yếu tố này đều dẫn đến sự thay đổi toàn hệ thống và thay đổi loại hình dịch vụ.
Hệ thống bao hàm quá trình hoạt động có định hướng, bao gồm các yếu tố vô hình và hữu hình các yếu tố vật chất và tâm lý tình cảm đan xen nhau trong quá trình tạo ra dịch vụ. Bản chất của dịch vụ viễn thông Sản phẩm dịch vụ viễn thông rất đa dạng và phong phú, nó bao gồm cả sản phẩm hữu hình là các thiết bị viễn thông và sản phẩm vô hình là các dịch vụ viễn 4 thông trong đó dịch vụ viễn thông có một đặc điểm chung nhất đó là kết quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tạo nên bởi 3 tính chất cơ bản sau: - Tin tức cần được chuyển giao chính xác tới người nhận tin. - Nội dung truyền tin tức phải được đưa kịp thời đến người nhận tin. Trong dịch vụ viễn thông tồn tại 2 khái niệm về sản phẩm dịch vụ đó là: +) Sản phẩm hoàn chỉnh là kết quả cuối cùng trong hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị viễn thông về việc truyền đưa 1 loại tin tức hoàn chỉnh nào đó từ người gửi đến người nhận thư: Truyền số liệu, điện thoại… từ người gửi đến người nhận.
+) Sản phẩm công đoạn: Là kết quả có ích trong hoạt động sản xuất của từng đơn vị viễn thông về việc truyền đưa 1 loại tin tức ở 1 giai đoạn nhất định của quá trình sản xuất hoàn chỉnh. Theo quy định tại điều 37 - NĐCP số 109, dịch vụ viễn thông được hiểu là dịch vụ truyền đưa lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn phát thu những ký hiệu tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh hình ảnh thông qua mạng công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp. Khi nói đến viễn thông là nói đến một hệ thống cung cấp dịch vụ vì gồm các yếu tố cấu thành nên mạng lưới cung cấp: Khách hàng, nhà cung ứng môi trường thay đổi thông tin và các dịch vụ viễn thông do nhà cung ứng cung cấp trong đó khách hàng là người có nhu cầu thay đổi thông tin và là người sử dụng dịch vụ viễn thông, đó có thể là những cá nhân, tập thể, các tổ chức doanh nghiệp hay chính phủ. Nhà cung ứng là các doanh nghiệp cung cấp 1 số hay phần lớn dịch vụ viễn thông.
Môi trường vật chất cần thiết cho việc cung ứng dịch vụ viễn thông bao gồm hệ thống tổng đài, thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn, hệ thống mạng cáp, hệ thống nhà trạm, quầy giao dịch… và con người trong doanh nghiệp. Đặc trưng chủ yếu của dịch vụ Viễn thông a) Tính vô hình của dịch vụ viễn thông Dịch vụ Viễn thông không phải là sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải là hàng hoá cụ thể mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận. Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản xuất vật chất.
5 Dịch vụ Viễn thông không phải là vật chất mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức. Để tạo ra dịch vụ Viễn thông cần có sự tham gia của các yếu tố sản xuất Viễn thông: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Lao động Viễn thông bao gồm: Lao động công nghệ, lao động quản lý, lao động bổ trợ. Tư liệu lao động Viễn thông là những phương tiện, thiết bị thông tin dùng để truyền đưa tin tức như: Thiết bị chuyển mạch, thiết bị truyền dẫn, vật kiến trúc,v.
Đối tượng lao động Viễn thông là những tin tức như: cuộc đàm thoại v. các cơ sở Viễn thông làm nhiệm vụ dịch chuyển các tin tức này tư vị trí người gửi đến người nhận. Sự dịch chuyển tin tức này chính là kết quả hoạt động của ngành Viễn thông. Để tạo ra dịch vụ, trong quá trình truyền đưa, tin tức Viễn thông (đối tượng lao động Viễn thông) không chịu sự thay đổi nào ngoài sự thay đổi về vị trí không gian.
Bất kỳ sự thay đổi nào khác đều là vi phạm về chất lượng. Nếu như trong quá trình truyền đưa tin tức trong viễn thông có sự biến đổi tin tức thành tín hiệu (mã hoá) thì sau đó phải được khôi phục lại đúng như tin tức ban đầu (giải mã). Hoặc trong quá trình truyền đưa nội dung bức điện báo được biến đổi thành các tín hiệu điện tức là được mã hoá để phù hợp với việc truyền đưa trên kênh thông tin, thì sau đó phải được biến đổi ngược lại tức là khôi phục lại hình thức ban đầu của tin tức (giải mã). Đối với việc truyền đưa tin tức trong điện thoại, Fax, thư điện tử v.
cũng tương tự như vậy. Dịch vụ Viễn thông không phải là vật chất cụ thể, không tồn tại ngoài quá trình sản xuất, nên không thể đưa vào kho, không thể thay thế được. Do vậy có những yêu cầu rất cao đối với chất lượng dịch vụ Viễn thông. b) Quá trình kinh doanh Viễn thông mang tính dây chuyền Quá trình truyền đưa tin tức là quá trình diễn ra từ hai phía (người gửi tin và người nhận tin).
Điểm đầu và điểm cuối của một quá trình truyền đưa tin tức có thể ở các xã khác nhau, các huyện khác nhau, các tỉnh khác nhau hoặc các quốc gia khác nhau. Thông thường để thực hiện một đơn vị dịch vụ Viễn thông cần có nhiều người, nhiều nhóm người, nhiều đơn vị sản xuất trong nước và có khi là nhiều đơn vị sản xuất ở các nước khác nhau cùng tham gia và trong quá trình đó người ta sử dụng nhiều loại phương tiện thiết bị thông tin khác nhau. 6 Như vậy để truyền đưa một tin tức hoàn chỉnh từ người gửi đến người nhận "thường" có từ hai hay nhiều đơn vị viễn thông tham gia, mỗi đơn vị chỉ thực hiện một giai đoạn nhất định của quá trình truyền đưa tin tức hoàn chỉnh đó. Đây là đặc điểm quan trọng chi phối đến công tác tổ chức, quản lý hoạt động viễn thông Do vậy để đảm bảo chất lượng tin tức truyền đưa cần phải có quy định thống nhất về thể lệ thủ tục khai thác các dịch vụ Viễn thông, quy trình khai thác, bảo dưỡng thiết bị thông tin, chính sách đầu tư phát triển mạng một cách phù hợp, thống nhất về đào tạo cán bộ, cần có sự phối hợp rất chặt chẽ về kỹ thuật, nghiệp vụ, lao động trên phạm vi rất rộng lớn, trên quy mô cả nước và mở rộng ra phạm vi thế giới.
Đặc điểm này đòi hỏi sự thống nhất và tính kỷ luật cao trong việc đảm bảo kỹ thuật mạng lưới, sự thống nhất về nghiệp vụ trong tổ chức khai thác; đòi hỏi phải có sự chỉ huy thống nhất từ một trung tâm và sự gắn bó hoạt động Viễn thông trong nước va Quốc tế. Trong Viễn thông tồn tại 2 khái niệm về sản phẩm đó là: +) Sản phẩm hoàn chỉnh : là kết quả có ích cuối cùng trong hoạt động sản xuất của tất cả các cơ sở viễn thông về việc truyền đưa một loại tin tức hoàn chỉnh nào đó từ người gửi đến người nhận. +) Sản phẩm công đoạn là kết quả có ích trong hoạt động sản xuất của từng cơ sở viễn thông về truyền đưa tin tức ở một giai đoạn nhất định của quá trình sản xuất hoàn chỉnh. c) Quá trình sản xuất cung cấp dịch vụ viễn thông gắn liền với quá trình sử dụng dịch vụ Trong hoạt động thông tin Viễn thông quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ trong nhiều trường hợp quá trình tiêu thụ trùng với quá trình sản xuất.
Hay nói cách khác hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong quá trình sản xuất. Chu kỳ tái sản xuất sản phẩm nói chung là sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng. Như vậy tiêu dùng sản phẩm thông thường nằm sau quá trình sản xuất. Đối với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm sau khi sản xuất ra được đưa vào kho, sau đó thông qua mạng lưới phân phối thực hiện chức năng phân phối, trao đổi và sau đó người tiêu dùng mới có thể tiêu dùng được.
Còn trong Viễn thông do đặc tính hoạt động sản xuất và tiêu dùng thì quá trình tiêu thụ sản phẩm gắn liền với quá trình sản 7 xuất hoặc quá trình tiêu thụ trùng với quá trình sản xuất. Như trong đàm thoại bắt đầu đăng ký đàm thoại là bắt đầu quá trình sản xuất, sau khi đàm thoại xong tức là sau khi tiêu dùng hiệu quả có ích của quá trình sản xuất thì quá trình sản xuất cũng kết thúc.