CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU VỀ THƯƠNG CẢNG VÂN ĐỒN VÀ DI TÍCH BẾN CỐNG CÁI 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của thương cảng Vân Đồn và di tích bến Cống Cái Thương cảng Vân Đồn là một hệ thống có nhiều bến bãi, nằm về phía đông bắc của Việt Nam, hiện nay các di tích của thương cảng này thuộc tỉnh Quảng Ninh gồm các huyện Vân Đồn, Hoành Bồ, Móng Cái, Quảng Yên. Theo Địa chí Quảng Ninh thì: “khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển. Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn.
có đặc trưng của khí hậu đại dương. Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Quảng Ninh bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10. Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10. Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10).
Dưới tác động của sự biến đổi khí hậu hiện nay, thời tiết của khu vực đảo Quan Lạn cũng có nhiều biến đổi” [83, tr. Vào tháng 8 - 9 năm 2016, vẫn có những cơn bão liên tiếp cùng với lượng mưa lớn. Vào tháng 4 năm 2017, thời tiết đã nắng gắt nhưng rất khô hạn, mực nước ngầm trong các giếng xuống rất thấp. Bến Cống Cái có vai trò quan trọng trong hệ thống các bến ở đảo Quan Lạn nói riêng và cả hệ thống thương cảng Vân Đồn nói chung.
Di tích bến Cống Cái nằm ở phần trung tâm của đảo Quan Lạn, một hòn đảo thuộc tuyến Vân Hải nằm ở rìa phía đông nam của huyện đảo Vân Đồn. Về quản lý hành chính, hiện nay khu vực này thuộc thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn, huyện Vân 12 n Đồn. Di tích nằm cách trung tâm xã Quan Lạn khoảng 5km về phía đông bắc, các xã Minh Châu khoảng 5km về phía tây nam. Di tích này gồm thung lũng Sơn Hào và ngã ba Cống Cái - Sông Mang.
Thung lũng Sơn Hào được vây quanh bởi một dãy núi cao ở phía tây nam và một dãy đồi thấp ở phía đông bắc. Nhân dân địa phương gọi đây là núi Vân, có thể đây là nguồn gốc tên gọi Vân Đồn ngày nay. Những cồn cát trắng ở phía đông chạy dọc theo bờ biển theo hướng đông bắc - tây nam tạo cho thung lũng khá kín, tránh được gió bão từ biển đông và khá rộng rãi, với nhiều cánh ruộng kiểu bậc thang từ trên sườn các quả đồi thấp và ven chân núi kéo xuống vùng trũng thấp giữa thung lũng. Về phía bắc thung lũng Sơn Hào, những quả núi nhỏ có độ cao không lớn lắm nằm bao lấy một vụng nước - vụng Cống Cái, mở vào dòng Cống Cái ở phía tây.
Quanh ba phía của vụng là những quả núi khá cao, nối với nhau bằng các võng núi hoặc khe núi thấp, có thể leo qua khá dễ dàng, đặc biệt là sườn đồi phía nam, nơi dẫn xuống thung lũng Sơn Hào. Cống Cái là một cửa vụng được mở ra do đảo Quan Lạn và núi Man chạy song song ngăn một dải nước tạo thành. Mỗi lần thủy triều lên xuống, nước biển cũng chảy vào hay rút ra theo dải sông này như cái cống. “Người vùng đảo gọi những dải nước hẹp là “cống”, như vậy cống là chỉ dòng sông nhỏ.
Vì nhỏ, nên nước ra vào với lưu tốc lớn hơn sông và lưu tốc nước lớn lại là một tiêu chí quan trọng để gọi dải nước biển là sông hay là cống” [60, tr. “Cái” là vụng biển kín đáo, không sâu, khi thủy triều dâng cáo thuyền bè vừa và nhỏ có thể cập bờ. Chính vì vụng ở ngay bên cống và cống lại chảy qua cái nên vụng này được gọi là Cống Cái” [60, tr. Vụng Cống Cái kín gió và không lớn lắm.
Cửa vào rộng khoảng 100m khi nước triều lên, nơi hẹp nhất khoảng 50m rồi lại mở rộng ở phía trong, có diện tích mặt nước khoảng 20,000m2 khi triều lên. Hiện nay, do việc đắp 13 n đường ngăn một phần vụng cho việc xây dựng lò đốt rác nên diện tích phần còn lại chỉ khoảng hơn 1/2. Vụng thường cạn trơ đáy khi thủy triều xuống thấp, nhưng lúc thủy triều lên cao đủ sâu cho thuyền bè hàng chục tấn vào neo đậu. Đặc biệt là ở bờ phía bắc, nơi có các khúc bãi khá phẳng và rộng.
Tình trạng cạn kiệt khi triều rút ngày nay còn do một thời kì đây là bến vận chuyển cát khai thác từ các cồn ven biển, tạo nên một lớp cát đọng phủ dầy dưới đáy. Án ngữ phía bắc vụng Cống Cái là Đồi Đình, một quả đồi khá cao, có sườn phía tây nam thoải xuôi xuống dòng Cống Cái. Đồi Đình cũng chắn ngay phía đông nam khu vực ngã ba sông Mang mở vào Cống Cái, cách nơi mở vào vụng Cống Cái khoảng 500m. Phía nam Vụng Cống Cái là một quả đồi khác, thấp hơn Đồi Đình, nhưng có sườn phía bắc khá dốc với nhiều khối đá lổn nhổn, không thuận lợi cho việc đi lại trên bộ cũng như dưới nước.
Tuy nhiên, một số khe nước chảy từ trên núi xuống được các khối đá lớn chặn lại, tạo nên những điểm dừng chân nhỏ, được chứng thực bởi sự có mặt của một số mảnh sành sứ phía trong vụng. Ở khu vực rộng hơn, vụng Cống Cái là một trong những vụng nhỏ nằm hai bên bờ Cống Cái, một dòng nước từ Sông Mang mở vào khu vực Cái Làng. Vụng Cái Làng là một vụng biển rộng, được ngăn lại bởi đảo Quan Lạn phía nam và núi Man nằm chặn giữa Sông Mang và Cống Cái ở phía bắc. Về phía bắc, ở khoảng giữa vụng là làng Cái Làng, một làng cổ nổi tiếng trong hệ thống các di tích của thương cảng cổ Vân Đồn.
Từ cửa Cống Cái mở về phía bắc là Sông Mang, đoạn này rộng tới khoảng gần 900m. Đảo Con Quy nằm về phía bắc-đông bắc, cách Đồi Đình khoảng hơn 900m. Nhưng những cồn cát và doi đất nổi lên về phía nam của đảo kéo tới cách Đồi Đình khoảng 300m, tạo nên những bãi nông rộng rãi. Giữa Đồi Đình và cụm đảo này là một dòng nước mở ra hướng biển Đông, nhưng nay đã bị chặn lại bởi các cồn cát và đường nhựa.
Từ trên sườn phía 14 n bắc đồi đình, một khe nước hầu như chảy suốt quanh năm đã được cư dân địa phương lợi dụng, thu vào một cái giếng nông, với một khối đá lớn bên ngoài, có thể để neo thuyền. Sông Mang, có hình cách cung, chảy theo hướng đông bắc-tây nam, đến đoạn mở vào Cống Cái lại có hướng đông-tây, chếch nam khoảng 15. Chiều rộng trung bình khoảng 7-800m, nơi rộng nhất tới trên 1000-1500m. Nơi sâu nhất đo được ở cửa Đối tới trên 30m, trong dòng chính trung bình khoảng 10- 15m.
Hai bên bờ có nhiều vụng, được gọi là “mang”, như Mang Thúng, Mang Đò… Hiện nay, nhiều mang được xây bờ chặn lại để nuôi thủy sản. Hướng và mức độ dòng chảy của sông Mang phụ thuộc vào thủy triều và thời gian trong năm. Trong các cuộc lặn khảo sát năm 2014 ở đây, có thể thấy dòng nước chảy khá mạnh khi triều rút, độ sâu ở khu vực lặn khảo sát trong Mang Thúng và Cống Cái không quá 9m [98]. Về phía đông khu vực nghiên cứu, dọc theo đảo Quan Lạn là những cồn cát cao ngăn những bãi cát trắng phau với những cánh ruộng và đồi núi bên trong.
Một số quả núi ăn lan ra biển, ngắt đoạn những cồn cát, tạo thành những bãi tắm tuyệt đẹp, như bãi tắm Quan Lạn, bãi tắm Sơn Hào và bãi tắm Minh Châu. Bên trong những cồn cát cao, nay phủ đầy phi lao và các loại cây khác, được giữ làm rừng phòng hộ, có những gò đất pha cát xám nâu. Một số, hiện là nơi cư trú hoặc được sử dụng làm đất nghĩa trang. Ngoài thung lũng Sơn Hào và những cánh ruộng thấp xen giữa các cồn cát, núi đá, đồi đất, phần lớn diện tích đồi núi, gò cát ở đây là rừng tạp tự nhiên, một phần là rừng trồng cây công nghiệp, chủ yếu là cây keo và cây thông.
Trước đây, rừng có nhiều loại cây gỗ quý, nhưng nay ở khu vực Sơn Hào rất ít thấy. Rừng tự nhiên ở đây có nhiều loại cây làm thuốc và gia vị có giá trị, vẫn được dân địa phương thu hoạch, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tại 15 n chỗ. Hải sản ở khu vực này, cũng như trong toàn huyện Vân Đồn nói chung rất đa dạng và có nhiều loài quý, có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là sá sùng. Một trong những bãi khai thác sá sùng lớn của Quan Lạn là khu vực Cống Cái - Cái Làng.
Lịch sử hình thành thương cảng Vân Đồn và vị trí địa - lịch sử qua sử liệu Ngày xưa, việc đi lại với phương Bắc theo con đường thủy ven vịnh Bắc Bộ. Thiên nhiên đã bố trí một loạt đảo chạy suốt ven biển tạo bức bình phong kín đáo, ngăn dòng nước ở giữa khiến việc đi lại yên bình như trên đường sông. Theo “Lĩnh Nam ngoại đáp” đời Tống ghi rõ: từ Khâm Châu thuyền đi hướng Tây-Nam, một ngày đến châu Vĩnh An, theo trại Đại Bàn thuộc Ngọc Sơn, tới Vĩnh Thái, Vạn Xuân liền tới Thăng Long, thuyền đi mất 5 ngày” [60, tr. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” viết: năm 1006, “Duyên biên an phủ sứ Thiệu Việp từng dâng vua Tống bản đồ đường thủy, bộ từ Ung Châu đến Giao Châu với ý đồ muốn lấy nước ta”[29; tr.
Chứng tỏ con đường này đã được người Tống nghiên cứu rất kỹ. Đường đi thuận lợi không những dùng cho quân đội mà còn là con đường buôn bán giữa nước ta với phương Bắc. Trong suốt những năm chống Hán hóa, thuyền buôn các nước vẫn buôn bán với Việt Nam. Đến năm 792, thuyền buôn qua lại nhiều đến nỗi, bọn quan lại nhà Đường cho rằng sự phồn vinh của Đại Việt có hại cho nền ngoại thương ở Quảng Châu nên họ yêu cầu vua Đức Tông ra lệnh cấm không cho tàu buôn các nước qua lại với Đại Việt [5, tr.
Năm 1009, vua Lê Ngọa Triều đã cầu thông thương với Ung Châu nhưng vua Tống chỉ cho “thông thương với Liêm Châu và trấn Như Hồng thôi” [29, tr. 16 n Qua kết quả khai quật 3 ngôi mộ tại khu mộ Đá Bạc (xã Minh Châu) cho thấy người chết cùng gia quyến là người có quan chức cao.