Chương 1 TỎNG QUAN 1. Bệnh do Feline Calicivirus (FCV) FCV là một loại virus thuộc ho Caliciviridae gây bệnh ở mẻo và là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất trên mèo. Đây là loại virus trần có khả năng tồn tại lâu ở môi trường bên ngoài và khó tiêu diệt. Bệnh FCV sé dé bị nhằm lẫn với bệnh FHV.
Mèo bị nhiễm FCV thường bi số mũi, lở miệng làm mèo ăn uống khó khăn. Mèo bị nhiễm FCV gây tổn thương vùng miệng và có thé làm mèo bỏ ăn (Burmeister và ctv, 2015). Lịch sử phát hiện bệnh Năm 1957, FCV lần đầu tiên được phân lập từ đường tiêu hóa của mèo ở New Zealand. Feline Calicivirrus là một trong những mầm bệnh virus phổ biến nhất ở mèo nhà trên toàn thế giới và công nhận FCV là nguyên nhân gây bệnh đường hô hap 6 méo.
Bản chất gây đột biến cao của FCV và tính linh hoạt di truyền cao của nó tồn tại trong quan thể mèo và đặt ra một thách thức đặc biệt liên quan đến chan đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh do FCV gây ra. Bệnh đường hô hấp trên đã được coi là một dau hiệu lâm sang phô biến của nhiễm trùng FCV. Một nghiên cứu từ Thụy Sĩ đã chứng minh rằng loét miệng, tiết nước bọt và viêm nướu-viêm miệng thường liên quan đến nhiễm FCV hơn là bệnh đường hô hấp trên và chưa đến một nửa số mèo nghi ngờ nhiễm FCV được phát hiện dương tính với FCV. Một nghiên cứu điều tra các chủng FCV phân lập từ Thụy Sĩ đã tìm thấy một số bằng chứng cho thấy nền tảng di truyền của méo có thé anh hưởng đến khả năng nhiễm FCV của chúng.
Bài đánh giá này cung cấp một bản tóm tắt toàn diện về tài liệu FCV và tích hợp các kết quả nghiên cứu gần đây về đặc điểm di truyền của FCV, miễn dịch tế bào và dich thé do tiêm vaccine và nhiễm FCV, chân đoán FCV, phòng ngừa hoặc tiêm vaccine FCV, các yếu tô nguy cơ liên quan với FCV và các biện pháp vệ sinh cần thiết ở những khu vực bị nhiễm FCV (Spiri và ctv, 2022). Dac tinh sinh học của FCV 1. Phần loại Feline Calicivirus (FCV) thuộc ho virus lớn có tên Caliciviridae, các thanh viên của chúng lây nhiễm nhiều loại động vật có xương song, bao gồm thỏ, gia súc, bò sát, chim và lưỡng cư. Đặc điểm hình thái và cấu trúc Feline Calicivirus là một loại virus RNA sợi dương được bao bọc bởi lớp vỏ icosahedral T=3 được hình thành bởi protein VP1 của virus.
Hai loại hạt giống virus (VLP) đã được hình thành, phần lớn được tạo thành từ 60 tiểu đơn vị (T=1) và một số ít có thé được tạo thành từ 180 tiêu đơn vị ( T=3) (Matteo Bordicchia va ctv, 2021). Caliciviruses có capsid icosahedral T=3 được hình thành từ protein capsid chính VP1, hiện diện trong ba môi trường liên kết gần tương đương: A (xanh lam), B (tim) và C (đỏ tuoi) (David Bhella và ctv,201 1). Cấu trúc của các hạt nhỏ được xác định bằng phương pháp tinh thé học tia X ở độ phân giải 0,8 nm được hỗ trợ bởi kính hiển vi điện tử lạnh để tìm hiểu sự hình thành của chúng. Tinh thé khối thuộc nhóm không gian P213.
Chức năng tự quay của chúng cho thấy sự hiện điện của một đối xứng giả bát diện tương tự như đối xứng được mô tả trước đây bởi Agerbandje và đồng nghiệp đối với các VLP parvovirus ở người. Cau trúc tinh thé có thé được giải quyết bắt đầu từ cau trúc VP1 đã công bố trong ngữ cảnh của capsid virus T=3. Trái ngược với các capsid của virus, trong đó các capsomer được lồng vào nhau bằng cách trao đổi miền cánh tay đầu cuối N (NTA), miễn này bị rối loạn trong capsid T=1 của các VLP. Hơn nữa, nó dễ bị phân giải prote (Matteo Bordicchia và ctv, 2021).
Độc lực của virus FCV là một loại virus RNA có tính biến đổi cao và phản ứng nhanh môi trường. Điều này làm cho virus rat dé thích nghỉ và có ý nghĩa quan trọng đối với bệnh lâm sàng và sự kiêm soát của nó. Do đa dạng về mặt đi truyền, FCV có liên quan đến một loạt các hội chứng lâm sàng từ nhiễm trùng không rõ ràng đến bệnh đường hô hấp trên và miệng tương đối nhẹ có hoặc không có tình trạng khập khiếng cấp tính. Gần đây hơn, các dạng virus có độc lực cao đã xuất hiện liên quan đến nhiễm trùng toàn thân thường gây tử vong.
Mèo bị nhiễm FCV sau khi khỏi bệnh nhưng vẫn mang mầm bệnh (Radford và ctv, 2007). Sinh bệnh học FCV xâm nhập qua đường miệng và đường hô hap ở mèo (Srinaldo và ctv, 2008). Bệnh do virus xâm nhập trực tiếp vào biểu mô, nội mô và đáp ứng miễn dịch thứ cấp của vật chủ (Burmeister và ctv, 2016). FCV có thé gây ra bệnh truyền nhiễm nhanh với tỷ lệ tử vong lên đến 67%.
Dấu hiệu lâm sàng ban đầu bao gồm dịch chảy ra từ mắt và mũi, loét trong miệng, biếng ăn và hôn mê, xảy ra trong một đến năm ngày đầu tiên. Các dau hiệu sau đó bao gồm sót, phù chân tay và mặt, vàng da, và nhiều hội chứng rồi loạn chức năng nội tang (Burmeister và ctv, 2016). Các chủng FCV khác nhau có thể khác nhau về độc lực (mức độ gây bệnh trong một nhóm hoặc loài vi sinh vật hoặc virus được biểu thị bằng tỷ lệ tử vong theo ca bệnh va/hoac khả năng sinh vật xâm nhập vào các mô của vật chủ). Ở những con mèo bị nhiễm bệnh dai dang, capsid virus (lớp vỏ protein bên ngoài của virus trưởng thành) đã được chứng minh là tiến hóa thông qua chọn lọc tích cực qua trung gian miễn dịch, cho phép virus thoát khỏi sự phát hiện của hệ thống miễn dịch (Burmeister và ctv, 2016).
Một dạng FCV đã được phát hiện là nguyên nhân gây ra bệnh toàn thân đặc biệt nghiêm trọng ở mèo, tương tự như bệnh xuất huyết ở thỏ (cũng do calicivirus gây ra). Virus này được gọi là calicillin ở mèo có hệ thống độc lực (VS-FCV) hoặc bệnh hệ thống có độc lực liên quan đến FCV (VSD) (Burmeister va ctv, 2016). Dich té FCV lưu hành trên toàn thế giới. Ty lệ nhiễm FCV thay đôi tùy theo môi trường.
Ở các hộ gia đình, FCV hiện diện ở khoảng 10% số mèo (6 trạng thái hoạt động hoặc mang mam bệnh), trong khi tỷ lệ mèo nhiễm FCVở nơi trú an hoặc chuồng nuôi mèo là 25 đến 40% (Regina Hofmann-Lehmann và ctv, 2022). Mèo bị nhiễm FCV thường có biểu hiện lở loét đau đớn ở miệng và bệnh đường hô hấp trên nhẹ, đặc biệt là ở mèo con, thậm chí là viêm phổi gây tử vong. Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Thụy Sĩ đã chứng minh rằng loét miệng, tiết nước bọt và viêm nướu, viêm miệng thường liên quan đến nhiễm FCV hon là bệnh đường hô hấp trên và chưa đến một nửa số mèo nghi ngờ nhiễm FCV được phát hiện dương tính với FCV (Spiri và ctv, 2022). Hiếm khi, các biến thé FCV có độc lực cao có thé gây ra bệnh toàn thân nghiêm trọng với sự lây lan thành dịch và tỷ lệ tử vong cao.
FCV có thể được phát hiện tốt nhất bằng PCR phiên mã ngược. Tuy nhiên, kết quả âm tính không loại trừ khả năng nhiễm FCV và mèo khỏe mạnh có thé cho kết quả dương tinh (Regina Hofmann-Lehmamn và ctv, 2022). Miễn dịch Bệnh FCV ở méo dé lây lan. Mèo khoẻ tiếp xúc trực tiếp với mèo bệnh qua nước bot, hắt hoi.
Virus xâm nhập vào cơ thé mèo qua mũi, miệng hoặc mắt. Mèo cái bị nhiễm bệnh cũng có thể truyền virus cho mèo con. Để hạn chế mèo nhiễm FCV, những con mèo nên được tiêm phòng FCV (vaccine cốt lõi); tuy nhiên, việc tiêm phòng bảo vệ mèo khỏi bệnh chứ không bao vệ mèo khỏi nhiễm trùng, khả năng biến đổi cao của FCV, việc đổi sang (các) chủng vaccine khác có thé hữu ích nếu bệnh xảy ra ở những con mèo đã được tiêm phòng đầy đủ. Miễn dịch do nhiễm trùng không kéo dài suốt đời và không bảo vệ chống lại tất cả các chủng; do đó, sau 3 tuần mèo khỏi bệnh nên tiêm phòng bệnh do Calicivirus ở mèo (Regina Hofmann-Lehmann và ctv, 2022).
Triệu chứng Những con mèo nhiễm Calicivirus thường phát triển các dấu hiệu nhiễm trùng đường hô hấp trên, bao gồm chảy dịch từ mắt và hoặc mũi, hắt hơi và ho. Nhiễm trùng đường hô hap trên nặng có thể tiến triển thành viêm phôi. Mèo nhiễm Calicivirus có thé gây loét trong miệng, đặc biệt là trên lưỡi. Nó cũng có thể gây ra viêm miệng, được đặc trưng bởi tình trạng viêm đáng kế ở miệng và môi.
Tình trạng què quặt và sốt xảy ra trong một số trường hợp do Feline Calicivirus ở mèo. Ngoài ra, một số con mèo có thể mắc một loại bệnh nghiêm trọng hơn gây ra nhiễm trùng toàn thân. Điều này có thể ảnh hưởng đến các cơ quan chính và có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng hơn như tôn thương và loét da, chán ăn, sốt và vàng da (Baker Institute for Animal Health, 2016). Các triệu chứng nhận biết bệnh FCV như sau: - Vùng đầu: sưng phù dau.
8 - Mắt: chảy địch mắt hoặc viêm kết mạc. - Mũi: chảy dịch mũi và viêm loét xung quanh vùng mũi. Mèo bị lở loét vùng da mặt (Regina Hofmann-Lehmamn và ctv, 2022). - Miệng: viêm loét màng miệng và viêm nướu.
Hofmann-Lehmamn và ctv, 2022) Hình 1. Mèo chảy mũi, viêm miệng chảy nước day và vét tray xước ở bàn chan (Regina Hofmann-Lehmann va ctv, 2022) 10 Các vùng da bị ảnh hưởng của FCV: Các tổn thương đóng vảy và loét ở mèo nhiễm FCV: mặt, da niêm mạc (môi dưới và mép) và tai của mèo. Chan đoán Chan đoán bệnh FCV dựa vào triệu chứng, bệnh tích của mèo nghi ngờ bệnh FCV. Dé chan đoán bệnh FCV chính xác phải kết hợp chan đoán lâm sang và phi lâm sảng.1 Chan đoán lâm sàng Các dấu hiệu lâm sàng ở mèo bị nhiễm FCV dựa vào các triệu chứng.
FCV có thé phát triển thể bệnh cấp tính, mãn tính hoặc hoàn toàn không có dấu hiệu lâm sàng. Mèo mang mam bệnh hoặc nhiễm bệnh thé cận lâm sang có 11 thé chuyền sang lâm sàng khi hệ miễn dịch mèo suy giảm hoặc mèo bị stress như thay đổi môi trường sống. Các dấu hiệu cấp tính của FCV bao gồm: sốt, viêm kết mạc, chảy nước mũi, hắt hơi và loét miệng (viêm miệng). Viêm phổi có thể phát triển với nhiễm trùng thứ phát đo vi khuẩn.
Ngoài bệnh viêm miệng, một số mèo có thé bị viêm đa khớp, cả hai đều có thé do miễn dich qua trung gian.