Chương 1: Mở dau Nêu lý do hình thành, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của dé tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Giới thiệu về các khái niệm và lý thuyết, các nghiên cứu liên quan. Từ đó xây dựng giả thuyết thống kê và hình thành mô hình nghiên cứu thích hợp. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu, thu thập dữ liệu va phân tích dữ liệu.
Chương 4: Kết quả Phân tích và diễn dịch kết quả của nghiên cứu, trình bày kết quả phân tích. Chương 5: Kết luận Kết luận và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Bất 6n giá dầu và tăng trưởng kinh tế Từ khoảng nửa cuối thế kỷ thứ hai mươi, dầu thô đã trở thành một trong những yếu tô đo lường chính của các hoạt động kinh tế trên khắp thé giới, do mức độ quan trọng của nó trong việc cung cấp cho nhu cau năng lượng của thé giới. Một số nhà nghiên cứu cho rằng giá dầu có ảnh hưởng thiết yếu đến kinh tế trong khi những nhà nghiên cứu khác nói rang dau và giá dầu đã mat dan sức ảnh hưởng của nó lên kinh tế.
Trong phần này, các góc nhìn khác nhau sẽ được thảo luận về cách mà giá dầu ảnh hưởng lên các hoạt động kinh tế. Sự ảnh hưởng của giá dầu lên các hoạt động kinh tế đã được nghiên cứu rộng rãi, trong đó đi đầu là nghiên cứu cua Hamilton (1983). Tác gia sử dung mồ hình VAR của Sim (1980) cho các dữ liệu của Mỹ trong giai đoạn từ 1948-1980, tác giả đã chỉ ra rang giá dau và sự tăng trưởng GNP của Mỹ có mối tương quan mạnh. Nghiên cứu cũng nói rằng sự gia tăng giá dầu có liên quan mạnh với các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ sau chiến tranh thé giới thứ hai.
Theo sau nghiên cứu của Hamilton cũng có nhiều tài liệu nghiên cứu khác về ảnh hưởng của giá dầu lên GDP của Mỹ. Một số nghiên cứu khác tìm hiểu về ảnh hưởng của giá dầu theo cau trúc thị trường. Trong nghiên cứu của Rotemberg và Woodford (1996), đối với thị trường cạnh tranh không hoàn hảo cho thay răng việc giá dầu tăng 1 phan trăm làm sản lượng giảm 0.25 phan trăm và lương giảm 0. Kết quả này sau đó được hỗ trợ bởi những nghiên cứu của Finn (2000).
Tác giả Finn nghiên cứu giá dầu và những những mỗi quan hệ đối với các biến kinh tế trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Theo đó, tác giả cho rằng việc tăng giá dầu có các ảnh hưởng tiêu cực lên hoạt động kinh tế không phân biệt cau trúc thị trường. Dù cau trúc thị trường hoàn hảo hay không hoàn hảo, việc giá dầu tăng vẫn có những ảnh hưởng không tốt đến các hoạt động kinh tế. Một số nghiên cứu khác tìm hiểu về ảnh hưởng của giá dầu đối với một khía cạnh cụ thể.
Keane và Prasad (1996) cung cấp bằng chứng cho thấy giá dầu ảnh hưởng ngược chiều dén lương thực tê. Tuy nhiên, đôi với những công nhân có kỹ năng, sự ảnh hưởng nay là khác nhau. Davis và các cộng sự (1997) ghi nhận việc giá dầu có vai trò quan trọng đối với sự biến động thất nghiệp và sự tăng trưởng việc làm kế từ năm 1970. Lee và Ni (2002) ứng dụng mô hình VAR với nên kinh tế Mỹ để tìm hiểu ảnh hưởng của giá dau lên các nền kinh tế va đưa ra kết quả là giá dầu có ảnh hưởng đến sản lượng đầu ra trong ngăn hạn.
Các nghiên cứu cũng xác định răng giá dau có ảnh hưởng đến cả cung và cầu của nên kinh tế. Bat ồn giá dầu gây ảnh hưởng đến cả các nước nhập khẩu lẫn các nước xuất khâu dau. Dau thô là một trong những tác nhân quan trọng của nên kinh tế và việc giá dầu thay đối có những anh hưởng đáng ké lên sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của các nước trên thế giới. Có nhiều nghiên cứu đã ghi lại những ảnh hưởng đến kinh tế khi giá dầu tăng hoặc giảm, mà điển hình là đối với các nước phát triển và nhập khâu dau, giá dầu tăng gây anh hưởng đến các chỉ số kinh tế vĩ mô, đặc biệt là GDP.
Trong khi một số nghiên cứu đề xuất răng một số nước (thường là các nước xuất khâu dầu) có thé được hưởng lợi ích từ việc tăng giá dau, thì một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng việc tăng giá dầu cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế của các nước khác nhau. Việc tăng giá dầu làm cho đầu tư giảm, có khả năng đòi hỏi việc phân chia lại các nguồn lực. Việc xây dựng ngân sách quốc gia trở nên khó khăn hơn: các nước nhập khẩu dầu đối mặt với sự bấp bênh về giá nhập khẩu dầu và mức trợ giá dành cho sản phẩm dau; các nước xuất khâu dầu đối mặt với sự bất 6n về doanh thu. Đây có thé là một van dé đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển khi mà nguồn thu dựa chủ yếu vào xuất khẩu dau hoặc dùng phan lớn ngân sách phân bồ để hỗ trợ giá dau.
Trong khi cố gắng bảo vệ các doanh nghiệp và các hộ gia đình chống lại biến động giá dâu trên thị trường quốc tế, hệ thông hỗ trợ giá dầu cũng phơi bảy ra các rủi ro ngân sách của chính phủ và dẫn đến chi phí kinh tế, môi trường và xã hội thay doi đáng kê. Từ mùa hè năm 2014, giá dầu giảm mạnh trên thị trường thế giới. Giá dầu đã giảm khoảng 50 phân trăm (tính theo USD). Giá dầu sụt giảm chủ yếu là do tác dụng của việc tăng nguồn cung dau, nhưng cũng phan nào làm xấu đi triển vọng tăng trưởng toàn cầu.
Giá dầu thấp kìm hãm lạm phát một cách trực tiếp khi giá các sản phẩm liên quan đến dau giảm và một cách gián tiếp khi chi phí sản xuất những hàng hóa khác giảm. Hiệu ứng này khác nhau giữa các nước xuất khẩu và nhập khẩu dâu. Sự sụt giảm giá dầu có tác động lớn hơn khi mức giá thấp diễn ra trong thời gian dài, khi đó các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ thay đối hành vi của họ nhiều hơn so với trường hợp sự giảm giá chỉ là tạm thời. Phản ứng chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương đối với việc giá dầu giảm phụ thuộc lớn vào lạm phát và những kì vọng về lạm phát sẽ ảnh hưởng thế nào.
Price (USD) Oil Price 140 120 4 100 - 804 604 40 4 20 4 0 TTT Ï TTT | TTT | TTT | TTT | TTT | TT T | TTT | TTT | TT T | TTT | TT T Ï TTT | TT T | TT T 01 02 03 04 05 05 07 08 09 10 11 12 13 14 #15 Year Nguồn: Từ phan mềm phân tích Hình 2-1: Giá dầu thế giới 2000 — 2015 Giá dầu giảm được kì vọng diễn ra trong thời gian dài sẽ gây ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến nền kinh tế so với khi giá chỉ giảm tạm thời. Nhưng sự ảnh hưởng của giá dầu giảm lên sự phát triển của kinh tế toàn cầu không chỉ phụ thuộc vào việc giá giảm là tạm thời hay lâu dài mà còn do nguyên nhân của nó. Giá giảm do nhu cau giảm sẽ không có những anh hưởng tích cực đến nên kinh tế so với khi giá giảm do nguồn cung tăng. Việc giá giảm do nhu cau có thé coi là triệu chứng của nên kinh tế trở nên suy thoái.
Mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào cách các nước điều chỉnh chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong việc đáp ứng với sự sụt giảm giá dau. Ké từ khi giá dầu sụt giảm vào mùa hè năm 2014 do tăng nguồn cung, nó được giả định là sẽ có tác động tích cực đền sự phát trién của nên kinh tê toàn câu nói chung. Tuy nhiên, những tác động khác nhau rất nhiều giữa các quốc gia, tùy thuộc vào việc những quốc gia đó là nhập khẩu dau ròng hoặc xuất khẩu ròng. Giá dầu thấp hơn dẫn đến giảm lạm phát toàn cầu.
Tuy nhiên, tác động này khác nhau giữa các nước, phụ thuộc vào các yếu tô như trọng số của sản phẩm dau trong rô hàng hóa CPI, những tác động của giá dầu về tiền lương và giá cả khác, diễn biến tỷ giá, chính sách tiền tệ như thé nào, cau trúc của thuế và trợ giá liên quan đến dau. Cú sốc giá dầu Giá dầu ảnh hưởng tới nên kinh tế thông qua nhiều kênh truyền khác nhau. Theo đó, có sáu kênh truyền dẫn mà giá dầu ảnh hưởng đến các biến kinh tế như sau: (1) hiệu ứng sốc phía cung (supply-side shock effect), (2) hiệu ứng thịnh vượng (wealth transfer effect), (3) hiệu ứng lam phat (inflation effect), (4) hiệu ứng cân bang thuc (real balance effect), (5) hiệu ứng diéu chinh khu vuc (sector adjustment effect), va (6) hiệu ứng bat ngờ (unexpected effect) (Weiqi T. Hiệu ứng sốc phía cung: Từ góc nhìn này, dau được mô tả như là một yếu tô đầu vào của quá trình sản xuất.
Khi giá dầu tang, nó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng dau ra thông qua việc tăng chỉ phí sản xuất. Kết quả là mức sản xuất thấp hơn sẽ làm giảm tong sản lượng và tăng thất nghiệp. Quá trình truyền dẫn này thường xảy ra ở các nước nhập khẩu dâu. Đối với nền kinh tế xuất khẩu dâu, giá dầu tăng làm lợi nhuận tang, góp phần vào các cơ hội dau tư, giúp tăng sản lượng đầu ra và giảm thất nghiệp.
Hiệu ứng tài sản: Kênh truyền dẫn này giải thích cách mà thu nhập chuyển từ nên kinh tế nhập khẩu dau sang nên kinh tế xuất khâu dau sau khi cú sốc tăng giá dau xảy ra. Kết quả là nhu cau tiêu dùng giảm ở nên kinh tế nhập khẩu và tăng ở nền kinh tế xuất khẩu. Hiệu ứng lam phát: Cú sốc giá dầu cũng gây ra lạm phát trong nên kinh tế. Như đã dé cập, cú sốc giá dau làm tăng chỉ phí sản xuất, điều này dẫn đến sự thay đối về ° 4 giá.
Hiệu ung cân băng thực: Thong qua kênh truyền dan này, một cú sôc giá dâu có ảnh hưởng tới nhu câu tiên. Ví dụ như người tiêu dùng có xu hướng vay nhiêu hon và không tiét kiệm, nó làm tăng lãi suat và làm giảm nhu câu tiên. Hiệu ứng điều chỉnh khu vực: Khi cú sốc giá dầu xảy ra, chi phí của việc điều chỉnh thay đổi trong các khu vực của nên kinh tế có thé là nguyên nhân của việc giảm sản xuất. Kết quả là những khu vực thâm dụng năng lượng sẽ bị thu nhỏ lại và những khu vực sử dụng năng lượng hiệu quả sẽ được mở rộng.