Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng 2.1 Rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng “Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của Ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định” (Trần Huy Hoàng, 2011). Hoạt động kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh liên quan tới mọi lĩnh vực trong nền kinh tế, là loại hình kinh doanh vô cùng phức tạp, do đó những rủi ro đối với hoạt động ngân hàng cũng đa dạng và tương đối đặc thù. Những rủi ro mà một ngân hàng hiện đại có thể phải đối mặt như rủi ro hoạt động, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá hối đoái,.
Trong đó, việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở hợp đồng tín dụng sẽ phát sinh rủi ro tín dụng. Theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng, người vay tiền cam kết sẽ thanh toán cả gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng. Chính vì vậy, tại thời điểm ký kết hợp đồng và cấp tín dụng, ngân hàng cần phải chắc chắn được khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn của khách hàng với một xác suất cao. Trong trường hợp mà người vay vì một lý do nào đó dẫn đến không đủ khả năng thanh toán cho Ngân hàng khi đến hạn thì ngân hàng sẽ không thu được lãi và có thể bị mất một phần hoặc toàn bộ phần vốn gốc, điều này phụ thuộc vào khả năng xử lý của ngân hàng đối với tài sản bảo đảm mà người vay đã sử dụng để bảo đảm cho khoản vay.
Như vậy, “rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng” (Trần Huy Hoàng, 2011).2 Phân loại rủi ro tín dụng Tùy theo mục đích, cách thức nghiên cứu mà có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau. Rủi ro tín dụng được phân thành nhiều loại khác nhau theo từng tiêu chí phân loại. Dựa vào các nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại rủi ro sau đây: Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo nghiệp vụ nội tại tập trung đảm Sơ đồ 2.1: Phân loại rủi ro tín dụng Theo sơ đồ 2.1, rủi ro tín dụng được chia ra thành hai loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rủi ro giao dịch: là loại rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình giao dịch, nguyên nhân chủ yếu là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và phê duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch gồm ba bộ phận chính là rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ, rủi ro lựa chọn. - Rủi ro lựa chọn là rủi ro tín dụng xảy ra trong quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những khách hàng có phương án vay vốn có tính khả thi cao, khả năng tài chính tốt để ra quyết định cho vay. - Rủi ro bảo đảm là rủi ro tín dụng phát sinh do các yếu tố như loại tài sản đảm bảo, cách thức đảm bảo, chủ thể đảm bảo, các điều khoản trong hợp đồng tín dụng và tỷ lệ giá trị của tài sản thế chấp trên giá trị cho vay. 6 - Rủi ro nghiệp vụ là loại rủi ro tín dụng phát sinh trong hoạt động cho vay và công tác quản lý khoản vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và các phương thức xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: Là một hình thức rủi ro tín dụng mà phát sinh do những hạn chế trong quá trình quản lý, lựa chọn danh mục cho vay của Ngân hàng. Rủi ro danh mục được phân chia thành rủi ro tập trung và rủi ro nội tại. - Rủi ro tập trung phát sinh nguyên nhân là do ngân hàng tập trung cấp tín dụng quá nhiều đối với một số khách hàng hoặc cho vay tập trung vào một số doanh nghiệp hoạt động trong một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc tập trung cho vay quá nhiều vào một khu vực, địa bàn hoạt động nào đó, hoặc cùng cho vay tập trung vào một phương thức cho vay mà có mức độ rủi ro cao. - Rủi ro nội tại phát sinh do những yếu tố, các đặc thù, đặc trưng bên trong của các khách hàng vay hoặc do những đặc điểm riêng có của các ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó phát sinh từ những hoạt động kinh doanh đặc thù của khách hàng hoặc phát sinh từ cách thức, phương pháp, mục đích sử dụng vốn đặc biệt của khách hàng vay vốn. * Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng Cho dù phần lớn các ngân hàng đã và đang xây dựng một cơ chế bảo đảm an toàn tín dụng nhưng một số khoản tín dụng vẫn được thể hiện trên sổ sách là những khoản tín dụng có vấn đề tức là nợ xấu là không thể tránh khỏi. Những biểu hiện của nợ xấu ít nhiều là khác nhau trong các tình huống khác nhau nhưng mốt số đặc điểm chung cho hầu hết các khoản tín dụng được khái quát như: Thứ nhất, sự chậm chễ bất thường và không có lý do trong việc cung cấp thông tin công ty, báo cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thỏa thuận; hoặc chậm trễ ,né tránh trong việc liên lạc với nhân viên ngân hàng. Thứ hai, đối với cho vay các doanh nghiệp, bất cứ sự thay đổi bất thường nào trong khấu hao, kế hoạch trả lương và phụ cấp, giá trị hàng tồn kho, tài khoản thuế và thu nhập.
7 Thứ ba, việc cơ cấu lại nợ hay hạn chế thanh toán cổ tức, hoặc có sự thay đổi vị trí xếp hạng tín nhiệm của các doanh nghiệp. Thứ tư, giá cổ phiếu của công ty thay đổi bất lợi. Thứ năm, thu nhập ròng giảm trong một hay nhiều năm, đặc biệt là các chỉ tiêu như tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ sinh lời trên vốn cổ phần (ROE), hay lợi tức trước thuế và lãi suất (EBIT). Thứ sáu, những thay đổi bất lợi trong cơ cấu nguồn vốn (chỉ tiêu vốn cổ phần trên nợ vay), thanh khoản (chi tiêu thanh khoản hiện thời), hay mức độ hoạt động (chỉ tiêu doanh thu trên hàng tồn kho).
Thứ bảy, độ lệch của doanh thu hay lưu chuyển tiền tệ so với kế hoạch kinh doanh khi mà các khoản tín dụng đã được cấp. Thứ tám, những thay đổi bất ngờ, không dự kiến và không có lý do đối với dòng tiền mà khách hàng chuyển về ngân hàng.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Theo Ghost (2012), có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, bao gồm nguyên nhân từ phía ngân hàng như quyết định tín dụng quá dễ dàng, quản trị tín dụng kém hiệu quả, những sự kiện bất ngờ không lường trước được và sự sự thiếu thiện chí trả nợ của khách hàng và nguyên nhân từ bên ngoài như các yếu tố kinh tế vĩ mô bị suy yếu, điều kiện kinh tế không thuận lợi, sự phát triển kém của thị trường bên ngoài. Các yếu tố kinh tế vĩ mô suy giảm, điều kiện kinh tế không thuận lợi sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế, dẫn đấn khả năng khách hàng không trả được nợ. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng rất đa dạng, đến từ nhiều phía như ngân hàng, khách hàng và đến từ những nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan (Trần Huy Hoàng, 2011), cụ thể như sau: Các nhân tố khách quan Nhóm nhân tố có tác động ngoài ý chí của khách hàng và ngân hàng như: môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường xã hội.
8 Môi trường kinh tế: Nói đến môi trường kinh tế là nói đến một hệ thống bao gồm nhiều hoạt động kinh tế có mối quan hệ liên quan mật thiết và ràng buộc lẫn nhau. Bất kì sự thay đổi nào của một thành phần kinh tế cũng có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các lĩnh vực còn lại, đó có thể là ảnh hưởng tiêu cực nhưng cũng có thể là ảnh hưởng tích cực. Riêng đối với hệ thống ngân hàng, khi nền kinh tế phát triển ổn định, thu nhập bình quân đầu người của các cá nhân và hộ gia đình tăng cao khiến mức độ an toàn của các khoản vay cũng được đảm bảo. Ngược lại khi nền kinh tế khó khăn, thu nhập của người dân thấp sẽ ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế khiến cho các khoản vay có nguy cơ khó thu hồi và thậm chí là không có khả năng thu hồi được làm ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng.
Môi trường pháp lý: Một nền kinh tế luôn bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau, đa ngành, đa nghề nhưng tất cả những ngành nghề đó luôn phải hoạt động trong một môi trường pháp lý nhất định. Riêng đối với hệ thống các ngân hàng lại chịu sự chi phổi bởi các quy định của Ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Dân sự, và các quy định khác. Có như vậy, thì mọi hoạt động của ngân hàng mới được kiểm soát trong một khuôn khổ nhất định, đồng thời cũng bảo vệ người dân và ngân hàng khỏi những rủi ro nhất định. Điều này cũng đòi hỏi hệ thống pháp lý phải thật ổn định, vững vàng và rõ ràng để tạo môi trường phù hợp cho các ngân hàng hoạt động, từ đó đạt được những hiệu quả nhất định đồng thời phát huy được vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân.
Môi trường tự nhiên: Sự biến đổi liên tục của khí hậu, thời tiết dẫn đến thiên tai, hỏa hoạn khiến khách hàng lâm vào tình trạnh khó khăn về mặt tài chính không thể khắc phục được ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợ của khách hàng dẫn đến rủi ro tín dụng.