Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa Pseudomonas là một chi vi khuẩn xuất hiện ở mọi nơi trong môi trường. Sự biến dưỡng dễ thay đổi và linh động của chúng làm cho chúng có thể sống ở nhiều môi trường khác nhau như nước, đất, trên cây và trong các động vật. Vi khuẩn không chỉ phát triển trong môi trường không khí bình thường, mà còn có thể sống trong môi trường có ít khí oxy, và do đó có thể cư trú trong nhiều môi trường tự nhiên và nhân tạo.
Vi khuẩn này dinh dưỡng bằng rất nhiều các hợp chất hữu cơ ở động vật. Trong số những loài Pseudomonas này, có những loài tiêu biểu có thể được sử dụng trong công nghệ sinh học. Một trong số đó là loài Pseudomonas aeruginosa. aeruginosa trên môi trường King A.
Phân loại Giới (regnum) Bacteria Ngành (phylum) Proteobacteria 6 Luận văn thạc sỹ Nguyễn Huyền Trang Lớp (class) Gamma Proteobacteria Bộ (ordo) Pseudomonadales Họ (familia) Pseudomonadaceae Chi (genus) Pseudomonas Loài (species) Pseudomonas aeruginosa 1.2 Đặc điểm Đặc điểm hình thái học chung cho Pseudomonas là Gram âm, tế bào hình que, di động nhờ roi ở đầu và không có bào tử. Các đặc điểm sinh lí là dị dưỡng, không lên men, linh hoạt về dinh dưỡng, không quang hợp hoặc cố định nitrogen. aeruginosa là loài điển hình thuộc giống Pseudomonas (Migula) [13]. Tế bào của chúng có dạng hình que, dài 1-1,5µm, rộng 0,5-1µm.
aeruginosa sử dụng hô hấp hiếu khí (oxy) làm sự trao đổi chất tối ưu mặc dù chúng cũng có thể hô hấp kị khí trên nitrat hoặc nhận điện tử khác thay thế. aeruginosa có thể chuyển hóa một loạt các phân tử hữu cơ, bao gồm các hợp chất hữu cơ như benzoate, điều này đã giúp P. aeruginosa trở thành một vi sinh vật rất phổ biến vì nó có thể được tìm thấy trong môi trường như đất, nước, con người, động vật, thực vật, nước thải và các bệnh viện [59]. Trong tất cả các hệ sinh thái thủy vực có chứa hàm lượng oxy hòa tan cao nhưng chất dinh dưỡng thực vật thấp, P.
aeruginosa là sinh vật chiếm ưu thế và điều này biến nó trở thành loài sinh vật phong phú nhất trên trái đất. Pseudomonas sp có khả năng tiết ra nhiều loại sắc tố: - Pyocyanin: là sắc tố phenazine, có màu xanh da trời, tan trong nước và tan trong chloroform, 96% số chủng P. aeruginosa có khả năng sinh sắc tố này. Pyocyanin sinh ra thuận lợi trong môi trường tiếp xúc nhiều với không khí, dễ dàng phát hiện khi nuôi vi khuẩn trên môi trường canh thang, thạch thường hoặc 7 Luận văn thạc sỹ Nguyễn Huyền Trang dùng môi trường King A để phát hiện sinh sắc tố.
aeruginosa sinh sắc tố pyocyanin. - Pyoverdin (còn gọi là fluorescent): sắc tố có màu xanh lục, tan trong nước, nhưng không tan trong chloroform. Môi trường King B được sử dụng để phát hiện sắc tố pyoverdin. aeruginosa còn có các vi khuẩn như P.
monteilla cũng có khả năng sinh sắc tố này. - Pyorubin: sắc tố màu hồng nhạt, chỉ 1% số chủng P. aeruginosa sinh ra sắc tố này. - Pyomelanin: sắc tố màu nâu đen, chỉ 1-2% số chủng P.
aeruginosa sinh sắc tố này. Tuy nhiên không phải tất cả các chủng Pseudomonas đều sinh sắc tố, khoảng 5- 10% số chủng Pseudomonas không sinh sắc tố. King, Ward, và Raney đã tìm ra môi trường thạch Pseudomonas Agar P (môi trường agar King A) để tạo điều kiện cho vi khuẩn tiết pyocyanin và pyorubin, thạch Pseudomonas Agar F (môi trường agar King B) tạo điều kiện cho vi khuẩn tiết sắc tố fluorescein. aeruginosa thường được xác định sơ bộ bởi vẻ ngoài óng ánh như hạt trai và có mùi giống như nho hoặc bánh tortilla khi được nuôi cấy in vitro.
Các dấu hiệu nhận biết sự có mặt của P. aeruginosa trong lâm sàng thường bao gồm khả năng sinh cả hai sắc tố pyocyanin và fluorescein, cũng như khả năng phát triển tại nhiệt độ 42°C. aeruginosa có khả năng sinh trưởng trong diesel và nhiên liệu máy bay, nơi mà vi khuẩn này được coi là vi sinh vật sử dụng hydrocarbon, và gây ra sự ăn mòn vi thể.[14] Mặc dù được phân loại là một vi sinh vật hiếu khí, P. aeruginosa còn được xem như là vi sinh vật kị khí tùy nghi, vì vi khuẩn này có thể tăng sinh trong môi trường thiếu một phần hay toàn phần khí oxy.
Nó có thể tăng sinh yếm khí bằng cách sử dụng nitrat như là chất nhận điện tử cuối cùng, và thậm chí khi thiếu nitrat 8 Luận văn thạc sỹ Nguyễn Huyền Trang nó cũng có thể lên men arginine bằng phosphoryl hóa ở mức cơ chất [23, 24, 41, 94, 95]. Cấu trúc gen P. aeruginosa có kích thước bộ gen khoảng 5,2 – 7.000 cặp bazơ với 65% nucletide là loại Guanine và Cytosine, bao gồm một lõi chính được bảo tồn và các phần phụ khác nhau. Bộ gen lõi của các dòng P.
aeruginosa phần lớn là giống nhau, biểu hiện sự đa dạng thấp, và chỉ chứa vài locus quy định những tính trạnh nổi bật, như locus pyoverdine, flagella, pilA, và locus sinh tổng hợp kháng thể O. Những đoạn gen quy định các tính trạng nằm rải rác khắp bộ di truyền và khoảng một phần ba trong số chúng nằm kề sát các gen tRNA hay mRNA. Tính đa dạng di truyền của vi khuẩn được hình thành bởi sự tương tác lẫn nhau giữa các họ đảo gen pKLC102/PAGI-2 vào các gen tRNALys hay tRNAGly. Các đảo gen riêng lẻ khác nhau về thứ tự các gen trao đổi chất, nhưng giống nhau về các gen tương kề truyền lại trực tiếp cho các chủng và các loài.
aeruginosa có một nhiễm sắc thể dạng vòng duy nhất và siêu xoắn trong tế bào chất [33]. Nó cũng mang rất nhiều plasmid nhiễm sắc thể huy động, điều này 9 Luận văn thạc sỹ Nguyễn Huyền Trang rất quan trọng đối với tập tính sống của sinh vật. Ví dụ như các plasmid, TEM, OXA, và PSE được mã hóa để sản xuất betalactamase, chất cần thiết cho sức đề kháng của vi khuẩn với thuốc kháng sinh [28]. Phương pháp xác định vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa 1.Phương pháp phân lập vi sinh truyền thống Đây là phương pháp thông dụng được các nhà nghiên cứu sử dụng để xác định các vi khuẩn nói chung.
Trong phương pháp vi sinh vật học, người ta nghiên cứu các đặc điểm hình thái, sinh lý và sinh hóa của các loài vi khuẩn. Đặc điểm hình thái của một loài vi khuẩn bao gồm cả các đặc điểm về tế bào (hình dạng, nội bào tử, tiêm mao, nhuộm Gram) và các đặc điểm về khuẩn lạc (màu sắc, đường kính, hình dáng). Các đặc điểm về sinh lý và sinh hóa như sự phát triển của các vi sinh vật ở các nhiệt độ, giá trị pH, nồng độ muối, nguồn năng lượng, hay các điều kiện môi trường khác. Tiếp đó là sự phát triển của chúng trên các kháng sinh khác nhau, hoạt động của các loại enzyme, và quá trình trao đổi chất… 1.
Phương pháp sinh học phân tử phân loại vi khuẩn Phân loại bằng sinh học phân tử là phương pháp mới nhưng có độ chuẩn xác cao. Phương pháp này có thể phát hiện mô tả và giải thích tính đa dạng sinh học ở mức phân tử, quan hệ giữa các loài và trong phạm vi loài [1]. Ngày nay phương pháp phân loại vi khuẩn bằng phương pháp xác định và so sánh trình tự gen mã hóa 16S rRNA đang được áp dụng phổ biến. Việc nghiên cứu phân tử rRNA là phương pháp hữu hiệu nhất để xác định mối quan hệ, tiến hóa của các vi sinh vật vì rRNA có mặt ở tất cả các loài vi sinh vật, có khả năng xác định, có tính bảo thủ cao, chúng chỉ khác nhau rất ít giữa các nhóm vi sinh vật.
Tuy nhiên, dựa vào sự khác nhau này, người ta có thể đánh giá được mối quan hệ phát sinh chủng loại và phân loại vi sinh vật. 10 Luận văn thạc sỹ Nguyễn Huyền Trang Trong ba gen mã hóa rRNA của vi khuẩn có 5S rRNA, 16S rRNA và 23S rRNA thì gen 16s rRNA là phù hợp nhất cho việc nghiên cứu phân loại hiện nay. Gen mã hóa 5S rRNA có kích thước khoảng 120 nucleotide, do có kích thước nhỏ nên thông tin chứa đựng ít, do đó khó phân biệt được chính xác sự khác nhau giữa chi, giữa loài và trong loài của vi sinh vật cũng như vị trí phân loại của chúng. Gen mã hóa 23S rRNA có kích thước khoảng 2900 bp quá lớn cho nên không thuận lợi cho tách dòng, xác định trình tự và phân loại vi khuẩn.
Gen mã hóa 16S rRNA có kích thước khoảng 1500 nucleotide vừa đủ để phân loại chi tiết giữa các chủng vi sinh vật không gây khó khăn trong các bước xác định trình tự gen và được ưu tiên chọn lựa trong phân loại vi khuẩn. Cấu trúc của gen mã hóa 16S rRNA đã được các nhà khoa học nghiên cứu kỹ và đã thiết kế rất nhiều các cặp mồi chung dùng cho nhiều nhóm vi khuẩn cũng như các cặp mồi đặc hiệu riêng cho các chi và loài. Đây là một thuận lợi lớn cho nghiên cứu phân loại vi khuẩn và xạ khuẩn dựa trên gen mã hóa 16S rRNA [50]. Ứng dụng của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa Vi khuẩn Pseudomonas sp có khả năng làm suy giảm các hydrocacbon thơm như methylbenzene - những sản phẩm của ngành công nghiệp dầu khí và thường được sử dụng làm dung môi cho sơn men và sơn cũng như trong sản xuất thuốc và hóa chất.
Methylbenzene được coi là chất gây ô nhiễm môi trường đang hiện diện trong không khí, đất và trên bề mặt nước [70]. aeruginosa có thể phá vỡ toluene, hình thức đơn giản nhất của methylbenzene. aeruginosa thoái hóa toluene thông qua quá trình oxy hóa của các nhóm methyl cho aldehyde, rượu và một acid, sau đó được chuyển đổi sang catechol (1,2-dihydroxybenzene). aeruginosa có thể được sử dụng trong kiểm soát ô nhiễm [51].
aeruginosa cũng được ứng dụng trong sản xuất chế phẩm sinh học kiểm soát dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản. aeruginosa giúp gia tăng sức 11 Luận văn thạc sỹ Nguyễn Huyền Trang khỏe và hệ miễn dịch của tôm bạc gân Penaeus latisulcatus khi cho tôm ăn với liều lượng 105 CFU/ml. aeruginosa YC58 cũng liên kết hoạt động với hệ vi sinh của ấu trùng hàu Cortez, C. Corteziensis, giúp gia tăng tỷ lệ sống và tăng trưởng của hàu ngọc Pinctada mazatlanica.
Ngoài ra, khi kết hợp vi khuẩn P. cepacia cũng có ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của điệp N. Hoạt chất pyocyanin 1.Cấu trúc pyocyanin và sự tham gia của các gen Hợp chất phenazine gồm 6,000 loại là các hợp chất thứ cấp của quá trình nuôi cấy chủng Pseudomonas sp như: pyocyanin - sắc tố xanh, pyorubrin - sắc tố nâu, Phenazine-1-carboxylic acid - sắc tố nâu đỏ, những hợp chất này đều có khả năng kháng khuẩn.