Chương 1: Giới thiệu nội dung chính của bài viết và vấn đề cần nghiên cứu. Chương 2: Trình bày khung lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đây của các tác giả trong và ngoài về tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm.
Chương 5: Kết luận và nêu ra các hạn chế của bài làm và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Ngoài ra, luận văn còn có các phần phụ lục bao gồm những nội dung cần thiết nhằm chi tiết hóa, minh họa và bổ trợ cho nội dung luận văn. Phụ lục được xem như một phần không thể tách rời của luận văn. 4 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khung lý thuyết và các quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế: Nợ nước nước ngoài gia tăng là do Chính phủ cần bù đắp cho thâm hụt ngân sách, khi nguồn thu không đủ tài trợ cho nhu cầu đầu tư và chi tiêu công.
Do đó, nợ nước ngoài tăng cũng không ngoài mục tiêu nhằm ổn định và tăng trưởng kinh tế. Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ nợ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài của quốc gia. Hay nói cách khác, nợ nước ngoài là tổng số tiền mà một quốc gia có trách nhiệm và bị ràng buộc phải thanh toán cho các chủ thể có quyền sở hữu chính thức đối với khoản tiền đó. Các chủ thể trong quan hệ nợ là chủ nợ và con nợ.
Chủ nợ là người cho vay có trách nhiệm cung cấp các khoản tiền cho người đi vay, có thể là một quốc gia, một tổ chức quốc tế, một doanh nghiệp hoặc một cá nhân nước ngoài. Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Tăng trưởng kinh tế được phản ánh ở nhiều chỉ tiêu nhưng chỉ tiêu thường được sử dụng là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), tốc độ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người (real GDP per capita), tăng trưởng vốn, lao động, sự gia tăng dung lượng thị trường.Sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP như tiêu dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại sẽ làm thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế. Quá trình tăng trưởng thể hiện các nguồn lực tăng trưởng như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ, quản lý, quan hệ, thị trường.
được khai thác và sử dụng có hiệu quả cao nhất. Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn.Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã lượng hoá tác động của các nguồn lực tăng 5 trưởng đến chất lượng và động thái tăng trưởng thông qua các mô hình như mô hình tái sản xuất giản đơn của C.Mác, tái sản xuất mở rộng của V. Lênin, mô hình các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của W.Rostow hoặc Solow,.hoặc hàm sản xuất Cob Douglas. Quá trình tăng trưởng kinh tế có thể có nhiều mô hình khác nhau như tăng trưởng kinh tế nội sinh, tăng trưởng kinh tế ngoại sinh hoặc sự kết hợp của cả hai mô hình này tùy điều kiện và sự lựa chọn chiến lược của các quốc gia.
Như vậy, tăng trưởng kinh tế là quá trình tích luỹ giá trị gia tăng của một nền kinh tế từ các nguồn lực trong và ngoài nước và nó phải được thúc đẩy bằng những động lực đủ mạnh của chính sách hoặc những yếu tố khác trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Nợ gia tăng là do Chính Phủ cần bù đắp cho thâm hụt ngân sách, khi nguồn thu không đủ tài trợ cho nhu cầu đầu tư và chi tiêu công, do đó nợ tăng cũng không ngoài mục tiêu nhằm ổn định và tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế nợ nước ngoài gia tăng luôn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay không là một câu hỏi còn gây rất nhiều tranh cãi. Đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm xoay quoanh mối quan hệ này, dưới đây tác giả trích dẫn một số quan điểm nổi bật của các nhà kinh tế học trên thế giới về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế xoay quoanh bốn trường phái: Nợ thúc đẩy tăng trưởng, Nợ kìm hãm tăng trưởng, Nợ vừa thúc đẩy lại vừa kìm hãm tăng trưởng (tùy theo quy mô nợ), Nợ không tác động đến tăng trưởng kinh tế.1 Nợ nước ngoài thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Các nghiên cứu lý thuyết về tác động của nợ trong ngắn hạn hầu hết đều cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa nợ và tăng trưởng.
Elmendorf & Mankiw (1999), Frimpong et al (2006) cho rằng, trong ngắn hạn, nợ có thể kích thích nhu cầu và sản lượng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.2 Nợ nước ngoài kìm hãm tăng trưởng kinh tế: Các nghiên cứu về nợ trong dài hạn hầu hết cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa nợ và tăng trưởng kinh tế. 6 Các nghiên cứu của Fosu (1996) chỉ ra rằng có tồn tại một mối quan hệ ngược chiều giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các nước Cận Châu Phi. Bằng cách sử dụng phương pháp bình phương bé nhất, nghiên cứu cho thấy, hầu hết các nước có nợ cao đều giảm 1% tăng trưởng GDP hàng năm. Nghiên cứu của Okonkwa, C.(2013) cũng cho thấy nợ nước ngoài tác động nghịch chiều đến tăng trưởng kinh tế ở cả 4 nước gồm Ivory Coast, Gambia, Ghana và Senegal giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2007.
Theo Benedict Clements và các cộng sự (2003), thanh toán nợ nước ngoài cũng có khả năng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế do làm giảm đầu tư tư nhân. Khi các yếu tố khác không đổi, thanh toán nợ cao có thể làm tăng thâm hụt ngân sách, giảm tiết kiệm công, điều này lần lượt có thể làm tăng lãi suất hoặc làm giảm nguồn tín dụng sẵn có của đầu tư tư nhân từ đó làm giảm tăng trưởng kinh tế. Trả nợ cao cũng có thể có những tác động bất lợi đến các thành phần của chi tiêu công bằng cách siết chặt các nguồn lực sẵn có cho cơ sở hạ tầng làm ảnh hưởng không tốt đến tăng trưởng kinh tế. Savvides (1992) khẳng định rằng nếu một quốc gia có con nợ không thể trả nợ nước ngoài thì sẽ ảnh hưởng đến tình hình kinh tế của đất nước.
Quốc gia đó chỉ được hưởng lợi một phần từ sự gia tăng sản lượng hoặc xuất khẩu bởi vì một phần của sự gia tăng đó được dùng để thanh toán các món nợ cho các chủ nợ. Như vậy, đối với quốc gia con nợ nói chung, nợ cao có thể làm giảm lợi nhuận để đầu tư và không khuyến khích việc hình thành vốn trong nước, điều này có thể ảnh hưởng đến tiết kiệm và đầu tư tư nhân, ngay cả khi các khoản nợ nước ngoài được vay bởi Chính phủ. Chính phủ có ít động lực để tiến hành những chính sách thúc đẩy sự hình thành nguồn vốn trong nước hoặc làm giảm tiêu dùng hiện tại để nền kinh tế tăng trưởng cao trong tương lai và có thể trả nợ cao hơn.3 Nợ nước ngoài vừa thúc đẩy vừa kìm hãm tăng trưởng kinh tế: Các nhà kinh tế học vẫn còn tranh luận về tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế. Mặc dù, có thể thấy đa số đều kết luận rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng, tuy nhiên 7 ở một mức độ nào đó, rõ ràng không thể phủ nhận vai trò của nợ trong việc bổ sung nguồn vốn đầu tư quan trọng cho nền kinh tế cũng như bù đắp thiếu hụt trong chi tiêu Chính phủ, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, nghĩa là nợ nước ngoài góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.
Vậy phải chăng giữa nợ nước ngoài đã không chỉ dừng lại ở mối quan hệ tuyến tính. với lập luận này, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã tìm kiếm và phát hiện ra bằng chứng về mối quan hệ phi tuyến giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Các lý thuyết kinh tế cho rằng mức vay nợ hợp lý ở các nước đang phát triển sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế. Các quốc gia ở giai đoạn phát triển đầu với dung lượng vốn nhỏ hơn sẽ có những cơ hội đầu tư với tỷ suất hoàn vốn cao hơn so với các nền kinh tế phát triển, mức nợ tích lũy cao quá mức hợp lý có thể dẫn tới tăng trưởng kinh tế thấp hơn.
Một số nghiên cứu khác đã xem xét tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế tại các nước phát triển. Hầu hết các nghiên cứu này đã được thúc đẩy bởi giả thuyết "nợ dư thừa" - một tình huống mà khi gánh nặng nợ quốc gia trở nên quá lớn, sẽ có một phần lớn sản lượng chỉ để dành chi trả cho các chủ nợ nước ngoài và do đó tạo ra tác động không khuyến khích đầu tư. Pattillo và cộng sự (2002) đã nghiên cứu trên một bộ dữ liệu của 93 nước đang phát triển trong giai đoạn 1969 - 1998 và nhận thấy rằng ảnh hưởng của nợ nước ngoài lên tăng trưởng GDP bình quân đầu người là ngược chiều với mức hiện giá thuần của nợ đạt trên 35 - 40% GDP. Tại mức nợ thấp, nợ gần như có tác động cùng chiều lên tăng trưởng nhưng khi trên một ngưỡng nào đó hay thường gọi là một điểm ngoặt (turning point), việc gia tăng thêm nợ bắt đầu gây tác động trái chiều lên tăng trưởng.
Đồng thời, sử dụng đường cong nợ Laffer để phản ánh tác động của nợ lên tăng trưởng.1 Đường cong Laffer nợ (Nguồn: Catherine Pattillo, Hélène Poirson and Luca Ricci, "External Debt and Growth" (2002), IMF Working Paper Rearch Department) Đường cong Laffer nợ cho thấy tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm khả năng trả nợ càng giảm. Đường cong nợ Laffer thể hiện rằng cùng phía bên trái, hoặc là mặt "tốt" của đường cong, khi nghĩa vụ nợ gia tăng thì sẽ tương ứng với sự gia tăng khả năng trả nợ, tuy nhiên, dọc theo mặt bên phải hay mặt "xấu" của đường cong nợ Laffer, khi tổng nợ càng tăng lên sẽ dẫn đến khả năng trả nợ càng giảm.