chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan về cách thức cũng như phương hướng nghiên cứu của đề tài, từ đó có thể tìm ra được những bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và yếu tố kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó còn cho thấy sự cần thiết của đề tài nghiên cứu khi nhận diện được RRTD, từ đó đề xuất các gợi ý nhằm hạn chế RRTD của các NHTM Việt Nam. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.
Khái niệm rủi ro tín dụng của ngân hàng Cũng như các loại hình kinh doanh khác, hoạt động của ngân hàng cũng đối mặt với những rủi ro như các doanh nghiệp thông thường, bên cạnh đó còn có những rủi ro mang tính đặc thù của ngành ngân hàng. Hai rủi ro quan trọng nhất thu hút được sự quan tâm của ngành ngân hàng là rủi ro thanh khoản và RRTD. Khi các ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay sẽ phát sinh RRTD liên quan đến việc khách hàng không thể trả nợ được đúng hạn và làm cho ngân hàng có khả năng thiệt hại về nguồn vốn. RRTD có thể chia làm hai loại là rủi ro lường trước được và rủi ro không lường trước được.
Đối với rủi ro không lường trước được thì ngân hàng sử dụng chính vốn chủ sở hữu của họ để phòng ngừa và bù đắp rủi ro này. Trong khi đó, đối với rủi ro lường trước trước được, tức là căn cứ vào việc đánh giá của ngân hàng thông qua các mô hình đánh giá (chấm điểm, thẩm định…) dựa trên cơ sở thực tế của khách hàng, ngân hàng có những mức trích lập dự phòng rủi ro theo kinh nghiệm hoặc theo quy định để tránh tổn thất vốn khi rủi ro xảy ra. Cavallo và Majnoni (2001) đã đề xuất về tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro theo từng mức độ rủi ro tương ứng. Theo Ủy ban giám sát Basel, RRTD xuất phát từ sự thay đổi giá trị thị trường của danh mục đầu tư bởi sự biến động bất lợi của tín dụng ngân hàng, bao gồm thiệt hại có thể lường trước được (Experted Loss-thiệt hại dự kiến trong khoảng thời gian cấp tín dụng dựa trên số liệu thống kê trong quá khứ) và thiệt hại không thể lường trước được (Unexperted Loss-thiệt hại có thể xảy ra xung quanh giá trị thiệt hại có thể dự kiến được).
RRTD được định nghĩa là khả năng mà khách hàng vay của ngân hàng hoặc một bên đối tác sẽ không đáp ứng các nghĩa vụ theo các điều khoản đã 7 thỏa thuận với ngân hàng. RRTD bao gồm cả việc không chắc chắn liên quan đến không hoàn trả các khoản nợ đúng hạn cho ngân hàng. Trong RRTD có rủi ro vỡ nợ mà nguyên nhân xuất phát từ người có nghĩa vụ tín dụng khi một hoặc cả hai sự kiện sau xảy ra: Khách quan: Bên có nghĩa vụ đã quá hạn trên 90 ngày đối với bất cứ nghĩa vụ tín dụng Chủ quan: Bên có nghĩa vụ không muốn hoàn trả các nghĩa vụ tín dụng của mình mà không có bất cứ nguồn lực nào để thu hồi nợ, ví dụ: giải chấp tài sản đảm bảo. Theo Financial Soundness Indicators Guide (IMF), RRTD được xem là khi một bên tham gia hợp đồng tài chính không thể hoàn thành nghĩa vụ và do đó gây tổn thất tài chính cho bên kia.
Do vai trò ngân hàng là nơi huy động tiền gửi như là trung gian tài chính, việc giám sát RRTD trong tài sản thông qua tỷ lệ nợ xấu là tâm điểm của bất kỳ đánh giá báo cáo tài chính của các ngân hàng. Theo World Bank, RRTD là rủi ro vỡ nợ khi một bên đối tác không thể thực hiện nghĩa vụ đã cam kết và rủi ro về thiệt hại là rủi ro mà kết quả của việc đối tác không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết thì người cho vay phải chịu thiệt hại. Theo Quyết định 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 quy định về việc phân loại khoản nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng: “RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo các định nghĩa trên thì ta có thể rút ra được các nội dung về RRTD cơ bản như sau: RRTD là những biến cố không mong đợi có thể xảy ra, có tính xác suất như rủi ro cao hoặc thấp và có khả năng xảy ra hoặc không xảy ra dẫn đến giảm thu nhập 8 của ngân hàng, nghiêm trọng hơn có thể tổn thất về tài sản của ngân hàng khi các yếu tố chủ quan hoặc khách quan ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người vay một cách đầy đủ và đúng hạn.
Phân loại rủi ro tín dụng RRTD được chia làm hai loại căn cứ theo nguyên nhân phát sinh là rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk) (Trần Huy Hoàng, 2011). Rủi ro giao dịch: là loại RRTD phát sinh trong quá trình thẩm định tín dụng đối với khách hàng, bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình thẩm định nhằm lựa chọn những phương án vay vốn hiệu quả để quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh do không tuân thủ các quy trình và quy định khi nhận tài sản đảm bảo.
Rủi ro nghiệp vụ: liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm hệ thống xếp hạng rủi ro và xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là loại RRTD liên quan đến những hạn chế trong việc quản lý danh mục cấp tín dụng của ngân hàng, được chia làm hai loại: rủi ro nội tại (intrinsic risk) và rủi ro tập trung (concentration risk). Rủi ro nội tại: xuất phát từ các đặc điểm riêng có mang tính cá biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế cụ thể. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn vay cho quá nhiều đối với một số khách hàng, một số doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay rủi ro cao. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Theo Trần Huy Hoàng (2011) thì rủi ro tín dụng cho ngân hàng có thể xuất phát từ phía ngân hàng, khách hàng hoặc các nguyên nhân khách quan khác, cụ thể: Các yếu tố bên trong ngân hàng thể hiện ở trình độ quản lý yếu kém của ngân hàng trong hoạt động tín dụng có thể kể đến như chính sách tín dụng không phù hợp với điều kiện của nền kinh tế (tăng trưởng tín dụng nóng khi nền kinh tế có dấu hiệu suy giảm và khủng hoảng, ưu tiên cấp tín dụng cho những ngành đang khó khăn ở hiện tại.), năng lực chuyên môn và đạo đức của nhân viên ngân hàng trong quá trình cho vay ( thẩm định, đánh giá tài sản bảo đảm…) và quản lý tín dụng sau khi cho vay (giám sát hoạt động sau cho vay và tài sản bảo đảm, chính sách đánh giá rủi ro và phân loại nợ để trích lập dự phòng rủi ro tín dụng…) (Trương Quang Thông, 2012). Các yếu tố bên ngoài ngân hàng: Về phía người vay: Trình độ cũng như kinh nghiệm quản trị, quản lý và điều hành doanh nghiệp như quản trị kinh doanh và năng lực tài chính sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ trong tương lai (Trương Quang Thông, 2012). Bên cạnh đó còn xem xét đến yếu tố rủi ro đạo đức từ phía khách hàng như sử dụng vốn sai mục đích so với dự án khả thi ban đầu để đầu tư ở các dự án, phương án có tính rủi ro cao hơn mặc dù sinh lợi cao hơn (như đầu tư kinh doanh bất động sản) thì khi có rủi ro về phương án xảy ra thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng.
Ngoài ra còn kể đến thái độ chây ì, không hợp tác và lừa đảo ngân hàng để vay vốn từ khách hàng. Điều kiện kinh tế vĩ mô: tình trạng xấu đi của nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế suy giảm, lạm phát gia tăng, thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng từ đó gia tăng rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng. Ngược lại thì trong giai đoạn kinh tế phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng được thuận lợi dẫn đến gia tăng khả năng trả nợ của khách hàng và hạn chế rủi ro 10 tín dụng của hệ thống ngân hàng (Trương Quang Thông, 2012). Thêm vào đó thì khi nền kinh tế có lạm phát gia tăng thì Chính phủ sẽ có những chính sách điều chỉnh dẫn đến gia tăng lãi suất và làm hạn chế khả năng trả nợ của khách hàng và làm tăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Bên cạnh đó thì môi trường về pháp lý như các chính sách về quản lý kinh tế, quản lý thị trường, các văn bản pháp lý về ngân hàng, môi trường chính trị xã hội tự nhiên cũng ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả vốn cho ngân hàng. Một môi trường pháp lý vững vàng và chặt chẽ sẽ tạo đà cho ngân hàng tăng trưởng tín dụng lành mạnh từ đó hạn chế RRTD của hệ thống ngân hàng. Ngược lại thì việc quản lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ cũng như các quy định bất hợp lý của NHNN sẽ khiến hoạt động của ngân hàng trở nên mất an toàn, ảnh hưởng đến hành vi của người vay, mang nhiều rủi ro do lợi dụng các khe hở của pháp luật từ đó gia tăng RRTD của hệ thống ngân hàng. Tổng quan nghiên cứu về rủi ro tín dụng trên thế giới Rủi ro tín dụng thu hút nhiều hướng nghiên cứu đặc biệt để ổn định hệ thống ngân hàng và phát triển đất nước.
Việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng không chỉ quan trọng trong việc quản lý ngân hàng mà còn dành cho các cấp quản lý.