Chương 1: Giới thiệuvề đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết địnhcho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng hoạt động cho vay DNNVV& Phương pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay DNNVV của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam -Chi nhánh Tỉnh Đồng Nai. Chương 4: Kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay DNNVV tạiNgân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Đồng Nai Chương 5: Kiến nghị Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI. Các đề tài từng nghiên cứu trước đây tại Agribank Đồng Nai chủ yếu tiếp cận khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua khảo sát sự hợp lý về giá cả, số lượng, chất lượng, sự thuận tiện của các các kênh phân phối; độ an toàn của các sản phẩm, dịch vụ dành cho doanh nghiệp mà chưa tiếp cận doanh nghiệptừ hoạt động vay vốn. Bài nghiên cứu tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay DNNVV của Agribank Đồng Naigiúp các DNNVV trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiểu biết hơn về vấn đề này để thỏa mãn tốt hơn các điều kiện cho vay của Agribank Đồng Nai, đặc biệt là các DNNVV tại các huyện nông thôn khi không có nhiều sự lựa chọn NHTM để vay vốn.
Đồng thời kết quả nghiên cứu là cơ sở giúp Agribank Đồng Nai tham khảo để cải thiện các điều kiện cho vay DNNVV nhằm mở rộng dư nợ cho vay doanh nghiệp. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 2.1 Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về DNNVV, các định chế tài chính quốc tế, các quốc gia lại có định nghĩa khác nhau về loại hình doanh nghiệp này, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là do tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp, nhưng nhìn chung các tiêu thức cũng dựa vào một số tiêu chuẩn định lượng về quy mô doanh nghiệp như doanh thu, tổng tài sản và số lượng lao động. Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB), DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể được chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là: doanh nghiệp siêu nhỏ với số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người và doanh nghiệp vừa có từ 50 đến dưới 300 lao động.
Theo một số quốc gia trên thế giới: Bảng 2. 1: Phân loại DNNVV của một số quốc gia và khu vực trên thế giới Quốc gia Số lượng lao động (người) Các tiêu chí khác USA(a) <500 Doanh thu < 50 triệu Euro hoặc EU(b) <250 tổng tài sản < 43 triệu Euro từ ít hơn 200 đến 3000 lao Tổng tài sản < 400 triệu RMB Trung Quốc(c) động tùy từng ngành hoặc doanh thu < 300 triệu RMB Ngành sản xuất và các ngành (d) dịch vụ liên quan, nông Doanh số bán hàng <= 5 triệu RM Malaysia nghiệp <=150 6 Dịch vụ, Nông nghiệp ưu tiên, công nghệ thông tin và Doanh số bán hàng <= 5 triệu RM truyền thông <=50 Tổng tài sản cố định: <200 triệu Sản xuất và dịch vụ: <=200 THB Tổng tài sản cố định: <100 triệu Thái Lan(e) Bán sỉ: <= 50 THB Tổng tài sản cố định: <60 triệu Bán lẻ: <=30 THB Doanh số bán hàng hàng năm <= Singapore(f) <=200 100 triệu SGD Sản xuất, xây dựng và công nghiệp khai thác < 200 lao Vốn góp <= 2,42 triệu USD động thường xuyên Taiwan (g) Các ngành khác (Nông, lâm nghiệp và thủy sản) < 100 lao Vốn góp <= 3,03 triệu USD động thường xuyên Philippines (h) <200 Tổng tài sản < 100 triệu Peso Nguồn: (a) Hammer et al. 2); (d) “SME Master Plan 2012 – 2020”, p. 147); (f) Spring Singapore, Performance Indicators at http://www.sg/aboutus/pi/pages/performance-indicators.aspx; (g) “The Definition of SMEs”, Small and Medium sized Enterprise Administration, Ministry of Economic Affairs at http://www.asp?xItem=70&CtNode=261&mp=2; (h) “SMEs Development Plan 2004 – 2010”, p.
2, retrieved at http://www.ph/uploads/file/SMED%20plan%2020042010.1 cho thấy đa phần các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở để phân loại quy mô doanh nghiệp vì tiêu chí này thường ổn định lâu dài về mặt thời gian, thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực doanh nghiệp đang tham gia. Còn các tiêu chí doanh thu, vốn…là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ nhưng thiếu ổn định do thường xuyên chịu tác động bởi các biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, lạm phát… 7 Tại Việt Nam, hiện tại DNNVV được xác định theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 dựa theo các tiêu chí: Quy mô vốn, quy mô lao động theo từng khu vực Bảng 2. 2: Phân loại Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Doanh Quy mô nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Tổng nguồn Số lao Tổng nguồn Số lao Khu vực Số lao động vốn động vốn động Nông, lâm Trên 10 Trên 20 tỷ Trên 200 nghiệp và < 10 người < 20 tỷ đồng người -200 đồng – 100 tỷ người – thủy sản người đồng 300 người Trên 10 Trên 20 tỷ Trên 200 Công nghiệp < 10 người < 20 tỷ đồng người -200 đồng – 100 tỷ người – và xây dựng người đồng 300 người Trên 10 Trên 10 tỷ Trên 50 Thương mại < 10 người < 10 tỷ đồng người – 50 đồng – 50 tỷ người – và dịch vụ người đồng 100 người (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009) Cách phân loại phân chia DNNVV theo 3 nhóm ngành chính là thương mại và dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, nông – lâm – nghiệp và thủy sản; quy mô doanh nghiệp cũng được phân loại chi tiết hơn là vừa, nhỏ, và siêu nhỏ nhằm mục đích giúp Chính phủ thực hiện các biện pháp hỗ trợ phù hợp, sát sao hơn đối với các doanh nghiệp. Đối tượng doanh nghiệp được đề cập ở đây bao gồm các loại hình doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần, công ty hợp doanh và doanh nghiệp tư nhân.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Từ cách phân loại của các định chế tài chính quốc tế và các quốc gia khác nhau trên thế giới, nhìn chung DNNVV có những đặc trưng riêng để phân biệt với các doanh nghiệp quy mô lớn như sau: Đặc điểm về vốn: DNNVV thường hoạt động kinh doanh với số vốn không lớn do có nhu cầu về nhà xưởng, thiết bị, máy móc, vốn lưu động thấp.Khi cần đầu tư mở rộng sản xuất hoặc bổ sung vốn lưu động thường phải sử dụng vốn tự có hoặc các nguồn tín dụng phi chính thức do gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.
Đặc điểm về quản lý: DNNVV thường có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Quyền quyết định, điều hành thường tập trung chủ yếu ở chủ doanh nghiệp. Chính về thế mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong các DNNVV còn rất thấp so với yêu cầu. Đặc điểm về lao động: DNNVV sử dụng lao động có trình độ không cao, không đồng đều và số lượng lao động hạn chế.
Đặc điểm về phạm vi hoạt động: DNNVV có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, không đủ nguồn lực để có thông tin đầu vào và tiêu thụ sản phẩm, thường chỉ phục vụ những phân khúc khách hàng cụ thể trong địa phương, thiếu năng lực tiếp cận thị trường nên khó tiêu thụ sản phẩm trên cả nước và hội nhập thị trường các nước.3 Vai trò của các DNNVV Đóng góp phần lớn vào tổng sản phẩm quốc nội và tăng trưởng kinh tế Giống như bất kỳ nước nào khác trong khu vực Đông Nam Á, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế ở Việt Nam. Số liệu do Tổng cục Thống kê (GSO, 2013) cung cấp cho thấy các DNNVV chiếm 98% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam. Các DNNVV đóng góp đáng kể vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP), đóng góp 48% vào GDP quốc gia (MPI, 2012). Ngoài ra, các DNNVV cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc đóng góp doanh thu của chính phủ.
So với khu vực kinh doanh nói chung, các DNNVV có tỷ lệ tăng trưởng cao về thuế và các khoản phải trả khác. Với tầm quan trọng của DNNVV 9 đối với nền kinh tế và phát triển xã hội, chắc chắn rằng DNNVV cần được khuyến khích và phát huy. Tạo được nhiều việc làm, góp phần đào tạo lực lượng lao động Trong điều kiện ở các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, vấn đề lao động và việc làm là vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. Với khoảng 77% tổng số lao động Việt Nam làm việc trong các DNNVV và là nguồn tạo việc làm chính với nửa triệu việc làm mới mỗi năm (MPI, 2012), các doanh nghiệp góp phần xóa đói giảm nghèo, góp phần vào công việc đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động và phát triển nguồn nhân lực.
Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động làm cho nền kinh tế năng động hơn Trong quá trình phát triển của mình DNNVV đã thu hút phần lớn lao động tại nông thôn, lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm, lực lượng lao động này chủ yếu tập trung vào các ngành phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quốc gia. Cạnh đó, với quy mô nhỏ và chủ yếu thuộc thành phần kinh tế tư nhân tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh của mình nên DNNVV có tính linh hoạt cao: có thể tạo lập dễ dàng, phát triển rộng rãi ở mọi vùng lãnh thổ; dễcải tiến sản phẩm, mẫu mã, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ…để thích nghi với sự thay đổi của thị trường. Chính sự linh hoạt này của DNNVV đã giúp nền kinh tế năng động hơn, phù hợp với yêu cầu hội nhập của nền kinh tế toàn cầu hiện nay.2 LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG 2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Nhiều nghiên cứu về cung ứng tín dụng của ngân hàng đã được thực hiện và đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của cho vay của ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp ở nhiều cấp độ khác nhau.