Chương 1 : ĐÚC TRONG KHUÔN CÁT ÔN ĐÚC. gi - CẤU TẠO VÀ CÁC BỘ PHẬN CƠ BẢN CỦA KHU 4. Sơ đồ cấu tạo khuôn đúc bằng cát. (hÌnh 3) Khuôn đúc bằng cát có cấu tạo như hình vẽ 3) Khuôn trên ; 7) Khuôn dưới ; 2) Lòng khuôn ; 8) Hòm khuôn cưới ; 3) Hệ thống rót ; 9) Hòm khuôn trên ; 4), 8) Đậu ngót (đậu hoi) 10) Mặt phân khuôn.
Các bộ phận cơ bản của khuôn đúc (hình 3) a) Hòm khuôn. Dùng để chứa khuôn (hỗn hợp làm khuôn) thông thường hai hòm khuôn : Hòm khuôn trên và hòm khuôn dưới, cũng có thể là ba hoặc nhiều hòm khuôn tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của vật đúc. Hỗn hợp chứa trong hòm khuôn là cát, đất sét, chất phụ, chất dính kết người ta gọi là hỗn hợp làm khuôn. Hình 4: Long khuôn là phan khong.
1) Céc rot ; 4) Ranh dan; 4 2) ống rót ; 5, 6) Đậu ngót gian rỗng trong khuôn, nó được tạo 3) Ranh loc xi: ra bởi mẫu. Hình dáng kích thước của lòng khuôn giống như hình dáng kích thước của vật đúc và mẫu (trừ phần tai gối mẫu). cy Hé théng rot. Hệ thống rớt là hệ thống dẫn kim loại từ thùng rót vào lòng khuôn.
Hình Hệ thống rót là một bộ phận quan trọng của khuôn. Hệ thống rót có kết cấu hợp lý và được bố trí ở vị trí thích hợp trong khuôn, sẽ đảm bảo cho vật đúc chất lượng tốt, tỷ lệ phế phẩm ít đồng thời cũng giảm được chất lượng hao phí hợp kim đúc cho hệ thống rot, Một hệ thống rót cớ kết cấu hợp lý va cớ vị trí thích hợp trong khuôn thì phải đạt được các yêu cầu sau ; 1) Dòng kim loại chảy vào khuôn phải liên tục và êm không tạo ra dòng chảy xoáy (tránh gây xới lở hệ thống rớt, lòng khuôn và lõï) và không có hiện tượng phun bắn. 2) Phải git lai duge-xi va tạp chất trong hệ thống rớt, không cho chảy vào khuôn. 3) Phải đảm bảo toàn bộ lòng khuôn được đều đầy hợp kim đúc, để vật đúc không bị thiếu hụt.
Để đảm bảo được các yêu cầu trên khi bố trí hệ thống rót trong khuôn phải chú ý 1 Số nguyên tắc sau đây : - Rhông đặt rãnh dẫn ngay dưới ống rót. - Không được đặt rãnh dẫn ở mép tận cùng của rãnh loc Hệ thống rót bao gồm cốc rớt, ống rót, rãnh lọc xỉ và rãnh dẫn. Cốc rót là nơi chứa kim loại lỏng từ thùng tot trước khi chảy vào ống rốt, giảm lực xung của dòng kim loại lỏng đi vào khuôn. Cốc rót cốc nhiều loại (hình ð) song chủ yếu có hai kiểu : Cốc rót hình phểu và cốc rốt hình chậu.
Hình õ: zi éu (hinh a) : Kiểu cốc rót này kết cấu đơn giản, dễ chế tạo nhưng do thể tích nhỏ đáy có dạng hình phéu, lam cho dong kim loại bị xoáy đẽ cuốn theo khí va xi vào ống rớt vi vay kiểu cốc rót này chỉ dùng cho khuôn đúc cỡ nhỏ, yêu cầu chất tượng đúc không cao. - hình chậu (hình b) : kim Cốc rót hình chậu có cấu tạo như (hình b) một bên sâu, một, bên nông, khi rót chất: khi loại lỏng vào phần lõm sâu, dòng xoáy sinh ra nằm cách miệng ống rót, xỈ và tạp 14 CTM kim loại nhẹ bị đồn vào tâm xoáy, không chảy vào ống rót, thể tích cốc rớt hình chậu lớn, chứa được nhiều kim loại lỏng làm cho kim loại lỏng chảy vào cốc rớt từ từ, êm. Trong quá trình rót nếu đâm bảo kim loại lỏng đầy cốc, thi xi va tạp chất sẽ nổi lên trên, không bị dòng kim loại cuốn vào ống rót. Cốc rót hình chậu có nhược điểm tốn kim loại đúc vì vậy thường dùng cho khuôn đúc lớn, yêu cầu chất lượng vật đúc cao." Ngoài hai kiểu cốc rớt thông dụng trên trường hợp yêu cầu chất lượng vật đúc cao, hợp kim lỏng phải được lọc xỉ tốt thì có thể dùng các kiểu cốc rót đặc biệt.
- Cốc rói có màng ngăn (hình c). Kiểu cốc rót này có màng ngăn xỈ làm bằng hỗn hợp làm khuôn, nên kiểu cốc rot này có tác dụng lọc xỉ tốt hơn. , Kiểu cốc rót này có màng lọc ở đáy lảm bằng hỗ hợp làm khuôn. Trước khi rót hợp kim lỏng vào cốc, trên màng lọc được đậy một tấm sắt tây mỏng.
Nhờ vậy khi rót hợp kim lỏng vào tấm sắt tây chưa bị °' 3y ngay, hợp kim lỏng sẽ bị chứa đầy cốc tạo điều kiện xÌ nổi lên trên cho tới khi tấm sắt tây nóng chảy, hợp kim lỏng sẽ chảy qua màng mỏng xuống ống rót đi vào lòng khuôn (trong quá trình rớt phải đảm bảo kim loại lỏng trong cốc luôn đầy). - Cốc rói có nút tự nổi : làm bằng hỗn hợp làm khuôn kiểu cốc rớt này có tác dụng giữ xỉ tốt (hình e), Trước khi rot nat day kín miệng ống rót. Sau khi rót nút dẫn đậy kín cho tới khi hợp kim lỏng trong-cốc dat tới mức nhất định (lúc này xÌ đã kịp nổi lên trên) nút mới tự nổi lên để hợp kim lỏng tự chảy vào ống rót. b) Ống rót (hình 6), Hinh 6: thước ống Ong rot dùng dẫn hợp kim lỏng từ cốc rót đến rãnh lọc xí, kết cấu và kích khuôn, chiều cao của.
rót ảnh hưởng trợc tiếp đến tốc độ chảy của dòng hợp kim lỏng vào và lòng khuôn. ống rót ảnh hưởng tới áp lực của hợp kim lông tác dụng lênhe thống rót hệ thống rót và Chiều cao ống rót càng lớn, thì áp lực hợp kim lỏng tác dụng lên gây xởi lở lòng thành khuôn càng lớn, đòng hợp lảm lỏng chây vào khuôn càng mạnh dễ khuôn cuốn theo hốn hợp làm khuôn vào vật đúc song lại có tánc dụng bổ ngót tốt. cao Thông thường chiều cao ống rót phải cao hơn nơi cao nhất của lòng khuôn (mặt nhất của vật đúc trong khuôn) một khoảng 100- 200mm. Ống rot thường cơ tiết diện.
tròn, trên to dưới nhỏ (đường kính ống nữ trên lớn hơn đường kính ống phía dưới khoảng 10- 15%). Ong xót có nhiều kiểu : ống rót thẳng, ống rot nhiều bậc, ống rot hình rấn v. bảo "Thông dụng nhất là kiểu ống rót thang (a) ed kết cấu đơn giản dễ làm khuôn lại nên hợp kim đảm hợp kim lỏng chảy đến vào ống lọc xỉ (do tiết diện ống trên to dưới nhỏ thép. lỏng trong ống luôn đầy), Được dùng nhiều trong khuôn đúc gang và đúc kết Còn hai kiểu ống rót bậc (b) và ống rót hình rắn có đặc điểm là chiều cao lớn, chây vào cấu gấp khúc hoặc lượn sóng, khó chế tạo song có ưu điểm là đòng hợp kim lỏng tốt mà không gây khuôn có tốc độ lớn áp lực lớn nhưng êm có tác dụng, điền đầy khuôn.
xới lở hệ thống rót vào lòng khuôn. Hai kiểu ống rót này được dùng trong khuôn đúc hợp kim màu có.nhiệt độ nóng chây thấp như nhôm, Mg. ©) Ranh loc xi (hình 7) : Hinh 7: lòng Ranh loc xÌ cớ tác dụng tiếp tục lọc xÌ trong hợp kim lỏng trước khi chay vao khuôn. 16 CTM ` Do cớ tác dụng như vậy nên rãnh lọc xỉ được bố trÍ ngay dưới ống rót và ở bên trên các rãnh dẫn (ngay tại mặt phân khuôn của nửa khuôn trên).
Ranh lọc xÌ có nhiều kiểu, thông dụng nhất là kiểu rãnh thẳng cơ tiết diện hình thang (a), tam giác (b), bán nguyệt (e), rãnh lọc xỈ tiết diện hình thang cớ ưu điểm dé nổi xỈ và tổn thất nhiệt hợp kim lỏng tương đối ít, nên thích hợp dùng cho khuôn đúc gang. Con hai kiéu rãnh tiết diện kia cớ ưu điểm là tổn thất nhiệt hợp kim lỏng it hơn, nhưng khó nổi xi hon vì vậy thích hợp cho khuôn đúc thép, d) Rãnh dẫn (hình 8). — _Ð): ¢) Hinh 8: ~ Ranh dan co tac dụng dẫn hợp kim lỏng từ rãnh loc xi vao lòng khuôn. Rãnh dẫn có tác dụng khống chế tốc độ và hướng của dong hgp kim lỏng chảy vào khuôn.
Rãnh dẫn có nhiều kiểu thường dùng nhất là rãnh dẫn thẳng tiêu chuẩn. Tiết điện của rãnh dẫn cớ thể là hình thang (a) tam giác (c) hoặc bán nguyệt (b). Thông dụng nhất là tiết điện hình thang vì loại tiết điện này cớ itt diém sau : - Dễ nổi xi trong ống rãnh. -Dé cắt rãnh khỏi vật đúc.
- Giảm khuynh hướng tạo thành kho ở chỗ dẫn kim loại vào lòng khuôn. Ranh dan co tiết diện không thay đổi theo suốt chiều dài kích thước và số lượng rãnh dẫn phụ thuộc và khối lượng, chiều dài dày thành và độ phức tạp về kết cấu vật đúc. "Trường hợp đúc các vật đúc có kết cấu đặc biệt người ta còn dùng các kiểu rãnh dẫn đặc biệt (hình 9) rãnh dẫn nhiều tầng (a) dùng khi vật đúc cao và to, rãnh dẫn kiểu khe mỏng có ụ tích xỉ (b) dùng khi đúc vật đúc bằng hợp kim nhẹ (nhôm, Magiê v.) thành mỏng, rãnh dẫn kiểu mưa rơi (c) dùng khi đúc lật đúc bằng dang base kim đồng có kích thước lớn. GIÁO THÔNG VẬN TẢI - CƠ SỞ 2 CTM THƯ VIỆN 17 Ly AA À|8 I|T In | | Hib : q! byi © / ag | Hinh 9: d) Dau hoi (hinh 10) : Đậu hơi có hai tác dụng chính thoát khí từ lòng khuôn ra ngoài và báo mức kim loại lỏng trong lòng khuôn khi rót.
Cũng có trường hợp. đậu hơi còn có tác dụng bổ sung kim loại bị co ngót trong quá trỉnh đông đặc. WAN SAN Do hai tác dụng chủ yếu trên, đậu hơi được bố trí tại nơi cao nhất của lòng khuôn. Đậu hơi có cấu tạo thường là trên to dưới nhỏ với tiết điện tròn hoặc chữ nhật.
Hình 10: Đậu ngớt có tác dụng bổ sung kim loại cho vật đúc bị co trong quá trình đông đặc và làm nguội. Đậu ngót chi dùng ở khuôn đúc kim loại, hợp kim có tính eo ngớt lớn. Ví dụ như đúc gang dẻo gang trắng, thép, hợp kim màu v. Và cả trường hợp đúc gang xám có khối lượng vật đúc lớn, dày thì khuôn phải có đậu ngót còn nếu đúc vật đúc gang xám khối lượng nhỏ thành mỏng thì không cần đậu ngót.
Do nhiệm vụ và bổ ngớt nên đậu ngót thường được bố trí tại nơi tập trung nhiều kim loại nhất của vật đúc vì tại đó kim loại thường đông đặc sau cùng và bị eo ngớt nhiều. NGUYÊN TAC CHO DAN KIM LOẠI VÀO KHUÔN. Trong hệ thống.rớt, rãnh dẫn có tán dụng dẫn kim loại : lỏng từ rãnh lọc xÌ vào khuôn theo một hướng nhất định vì thế rặnh dẫn có ảnh hưởng trực tiếp đến hướng đông đặc cũng như tốc độ đông đặc của vật đúc trong khuôn.