Khóa Luận Tốt Nghiệp Về Ứng Dụng Robot 3 Trục Trong Quy Trình Xử Lý Wafer

Khóa luận tốt nghiệp kỹ thuật phần mềm về robot 3 trục ứng dụng trong quy trình xử lý wafer, mang lại giải pháp hiệu quả cho ngành công nghiệp.

Chuyên ngành

Công Nghệ Thông Tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

77
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: Quá trình phát triển của robot công nghiệp

1.1. Từ năm 2000 trở lại: Robot công nghiệp được sử dụng trong quá trình vận chuyển wafer

1.2. Phân loại wafer robot trên thị trường

1.3. Môi trường hoạt động của robot wafer

1.3.1. Robot sử dụng trong môi trường không khí

1.3.2. Robot sử dụng trong môi trường chân không

1.4. Một số cấu hình robot wafer

1.4.1. Robot dạng chân ếch (frog-leg robot)

1.4.2. Robot SCARA 4DOF

1.4.3. Robot có nhiều cánh tay

1.5. Các loại khâu chấp hành cuối

1.6. Tình hình nghiên cứu robot wafer và một số robot wafer trên thị trường

1.7. Một số mẫu robot wafer trên thị trường

1.8. Tổng quan khóa luận

1.9. Sơ đồ hệ thống

1.10. Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi

2. CHƯƠNG 2: Cơ sở lý thuyết

2.1. Động học thuận

2.2. Động học nghịch

2.2.1. Quỹ đạo di chuyển của robot

2.2.1.1. Quỹ đạo tuyến tính
2.2.1.2. Quỹ đạo parabol
2.2.1.3. Quỹ đạo bậc ba
2.2.1.4. Quỹ đạo bậc năm
2.2.1.5. Quỹ đạo hình thang và S-Curve

2.2.2. Lựa chọn quỹ đạo

2.2.3. Ràng buộc về mặt thời gian cho quỹ đạo bậc năm

3. CHƯƠNG 3: Phần cứng đồ án

3.1. Buồng làm việc

3.2. Các phần cứng khác

3.2.1. Raspberry Pi 3 Model B+

3.2.2. Động cơ Step-syn

3.2.3. Module Endstop

3.2.4. Module camera

4. CHƯƠNG 4: Phần mềm cho Board Raspberry Pi (Controller Board)

4.1. Các tính năng giao diện cung cấp

4.1.1. Giao tiếp giữa Controller (Raspberry Pi) và Motion Controller (STM)

4.1.2. Giao thức UART

4.1.3. Cấu trúc gói tin sử dụng

4.2. Huấn luyện mô hình xử lý ảnh

4.2.1. Nhận diện khung chứa wafer và vị trí của các tấm wafer trên khay

5. CHƯƠNG 5: Phần mềm cho Board STM32 (Motion Controller Board)

5.1. Tổng quan về chương trình

5.2. Những kỹ thuật được sử dụng

5.2.1. Giao tiếp UART

5.2.2. Sử dụng TIME

5.2.3. Sử dụng ngắt ngoài trên các chân GPIO

6. CHƯƠNG 6: Khảo sát kết quả

6.1. Kết quả thực hiện quy trình vận chuyển wafer

6.2. Khảo sát tốc độ xử lý ảnh

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Khóa Luận Tốt Nghiệp Về Robot 3 Trục

Khóa luận tốt nghiệp này tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển robot 3 trục trong quy trình xử lý wafer. Mục tiêu chính là ứng dụng công nghệ robot vào sản xuất linh kiện bán dẫn, một lĩnh vực đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Việc sử dụng robot công nghiệp không chỉ giúp tăng năng suất mà còn đảm bảo độ chính xác cao trong quá trình xử lý. Khóa luận sẽ trình bày chi tiết về mô hình hệ thống, phương pháp điều khiển và kết quả đạt được.

1.1. Lý Do Chọn Đề Tài Khóa Luận Tốt Nghiệp

Đề tài được chọn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong ngành công nghiệp bán dẫn. Việc ứng dụng robot 3 trục giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu sai sót và tăng hiệu quả làm việc.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Của Khóa Luận

Mục tiêu chính là phát triển một mô hình robot 3 trục có khả năng xử lý wafer một cách chính xác và hiệu quả. Khóa luận cũng hướng đến việc áp dụng công nghệ mới trong việc điều khiển robot.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Quy Trình Xử Lý Wafer

Quy trình xử lý wafer gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc di chuyển và xử lý các tấm wafer mỏng manh. Các vấn đề như rung lắc, độ chính xác trong di chuyển và yêu cầu về môi trường sạch là những yếu tố cần được xem xét. Việc sử dụng robot công nghiệp giúp giải quyết những vấn đề này, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao về thiết kế và công nghệ điều khiển.

2.1. Các Vấn Đề Chính Trong Quy Trình Xử Lý Wafer

Các vấn đề chính bao gồm độ chính xác trong việc di chuyển, khả năng chịu tải của robot 3 trục, và yêu cầu về độ sạch trong môi trường sản xuất. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm cuối cùng.

2.2. Thách Thức Trong Việc Tự Động Hóa Quy Trình

Tự động hóa quy trình xử lý wafer đòi hỏi sự kết hợp hoàn hảo giữa công nghệ cảm biến và điều khiển. Việc phát triển các giải pháp công nghệ mới là cần thiết để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành công nghiệp bán dẫn.

III. Phương Pháp Xây Dựng Robot 3 Trục Trong Quy Trình Xử Lý Wafer

Phương pháp xây dựng robot 3 trục bao gồm việc thiết kế hệ thống cơ khí, lập trình điều khiển và tích hợp các cảm biến. Mô hình robot được phát triển dựa trên các tiêu chuẩn công nghiệp, đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình xử lý wafer. Việc áp dụng công nghệ mới trong điều khiển giúp robot hoạt động mượt mà và ổn định.

3.1. Thiết Kế Hệ Thống Cơ Khí Cho Robot 3 Trục

Hệ thống cơ khí được thiết kế với các trục chuyển động linh hoạt, cho phép robot thực hiện các thao tác chính xác. Việc lựa chọn vật liệu và cấu trúc phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo độ bền và hiệu suất.

3.2. Lập Trình Điều Khiển Robot 3 Trục

Lập trình điều khiển sử dụng các thuật toán tiên tiến để đảm bảo robot có thể di chuyển và xử lý wafer một cách chính xác. Việc tích hợp các cảm biến giúp robot nhận diện và điều chỉnh theo môi trường làm việc.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Robot 3 Trục Trong Ngành Công Nghiệp

Ứng dụng của robot 3 trục trong ngành công nghiệp bán dẫn đang ngày càng trở nên phổ biến. Robot được sử dụng để di chuyển và xử lý wafer trong các quy trình sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả và giảm thiểu rủi ro. Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng robot giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Của Robot 3 Trục

Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng robot 3 trục giúp giảm thời gian xử lý và tăng độ chính xác trong quy trình sản xuất. Các số liệu thực tế cho thấy năng suất tăng lên đáng kể khi áp dụng công nghệ này.

4.2. Các Ứng Dụng Khác Của Robot Trong Ngành Công Nghiệp

Ngoài việc xử lý wafer, robot công nghiệp còn được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác như lắp ráp, kiểm tra chất lượng và vận chuyển hàng hóa. Điều này cho thấy tính linh hoạt và khả năng thích ứng cao của robot trong sản xuất.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Robot 3 Trục Trong Ngành Công Nghiệp

Kết luận từ khóa luận cho thấy robot 3 trục có tiềm năng lớn trong việc cải thiện quy trình sản xuất wafer. Tương lai của công nghệ này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều cải tiến trong ngành công nghiệp bán dẫn. Việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển sẽ giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm.

5.1. Tương Lai Của Robot Trong Ngành Công Nghiệp Bán Dẫn

Tương lai của robot 3 trục trong ngành công nghiệp bán dẫn sẽ tiếp tục phát triển với sự hỗ trợ của công nghệ mới. Các nghiên cứu sẽ tập trung vào việc cải thiện độ chính xác và tốc độ xử lý.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Đề xuất nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc phát triển các giải pháp điều khiển thông minh hơn và tích hợp các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả của robot công nghiệp.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp kỹ thuật phần mềm xây dựng robot 3 trục ứng dụng trong quy trình xử lý wafer

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thế hệ thứ hai của robot, kéo đài từ năm 1968 đến năm 1977 [3]. Robot ở thế hệ này là những thiết bị có thể lập trình được với các chức năng hạn chế trong việc thích ứng với môi trường và khả năng cơ bản trong việc nhận thức về môi trường xung quanh. Sự dịch chuyên từ sử dụng bộ truyền động thủy lực sang bộ truyền động điện như servo va stepper diễn ra vào những năm 70 cho phép những chuyên động linh hoạt hơn của robot, cho phép chúng thực hiện các quỹ đạo cả từ điểm đến điểm và liên tục [7]. Một trong những phát minh nổi bật của giai đoạn này là PLC, một máy tính số có thé lập trình được dé điều khiển các output dựa trên các input, được thiết kế dé phù hợp với quy trình sản xuất trong nhà máy như dây chuyền lắp ráp hoặc dùng cho các thiết bị robot hoặc các hoạt động khác cần độ tin cậy cao.

Các hệ thống điều khiến ở giai đoạn này thường sử dụng các vi xử lý hoặc bộ PLC hoặc có thé lập trình qua các hộp dạy máy (teach box) [3]. Sự phổ biến của vi xử lý đã cho phép các nhà sản xuất robot cho ra các bộ điều khiển mạnh mẽ và kinh tế dé điều khiển robot thực hiện các tác vụ phức tạp và đòi hỏi tính toán cao. Tuy đã thực hiện được những công việc phức tạp hơn, tính linh hoạt của robot không cao do mỗi loại robot được thiết kế ra dé thực hiện trong một quy trình cụ thé trong chuỗi sản xuất và mỗi robot có một phần mềm riêng biệt dé thực hiện tác vụ đó [7]. Một số robot có thiết kế động học mới mẻ có thé kế đến robot Stanford gồm sáu bậc tự do được thiết kế bởi Victor Scheinman [8].

Cánh tay Stanford có năm khớp quay va một khớp trượt, được điều khién bởi vi xử lý PDP-6, chuỗi động học của robot được thiết kế bởi các hộp số điều hòa và bộ giảm tốc. Thêm nữa, robot được tích hợp nhiều cảm biến (potentionmeters và tachometers) dé do vi trí và tốc độ của từng khớp. Vài năm sau, Victor tiếp tục phát triển từ cánh tay Stanford để thiết kế ra Vicarm với thiết kế nhỏ và nhẹ hơn nhiều so với robot thời bay giờ, giúp nó phù hợp cho việc lắp ráp trong dây chuyên. Công ty Unimation đã đứng ra mua thiết kế của Vicarm dé từ đó thiết kế và sản xuất robot PUMA, robot được cho là nguyên mau của các cánh tay robot giống cánh tay người sau này.

Kế đó, hàng loạt mẫu robot được các nhà sản xuất cho ra đời, robot Famulus năm 1973, robot T3 năm 1974, chuỗi robot IRB năm vào cùng năm [7]. Tir năm 1977 đến năm 2000: Khoảng đầu những năm 80, hàng tỷ đô được đầu tư trên khắp thế giới để tự động hóa các tác vụ trong dây chuyền công nghiệp như sơn, hàn, đi chuyền và lắp ráp. Nhiều người tin rằng kỷ nguyên của robot bắt đầu từ năm 1980 [8]. Một số công nghệ chủ chốt vẫn còn tiếp tục thúc đây sự phát triển của robot cho tới hôm nay có thé kế đến sự mở rộng của việc truy cập Internet ở năm 1980 [9], Ethernet trở thành chuẩn truyền thông vào năm 1983 [10] và nhân Linux được công bố vào năm 1991 và sau đó là các phiên bản khác của Linux nhằm phục vụ cho các hệ thống thời gian thực [11].

Robot ở giai đoạn này được đặc trưng qua việc mở rộng trong sự tương tác của chúng với người vận hành và môi trường, qua các phương tương khá phức tạp như giọng nói và thị giác. Chúng có bộ điều khiển riêng (máy tính) tập trung vào việc điều khiển, chúng có thể được cài đặt bởi người vận hành qua các teach box, hoặc lập trình qua các bộ PLC hay PC và một số được kết nối với phần mềm hỗ trợ thiết kế (CAD) và có cơ sở dữ liệu đi kèm. Ngoài ra, chúng cũng trở nên thông minh hơn và đáp ứng với môi trường tốt hơn, một phần nhờ sự phát triển của trí tuệ nhận tạo. Ví dụ như chúng có thé phân tích dữ liệu từ camera hoặc các hệ thống cảm nhận để xác định vật thể và thay đổi cách di chuyên của khớp theo tác vụ và đối tượng.

Ở giai đoạn này, nhiều cấu trúc động học robot được ra đời như SCARA, robot tương thích với việc hoạt động theo phương ngang và có cấu trúc động học nhẹ gọn, phù hợp với việc lắp ráp các vật nhẹ trong dây chuyền [12]. Thiết kế direct drive cho cánh tay robot, robot có các động cơ nối trực tiếp vào cánh tay mà không thông qua bộ truyền động, cũng được áp dụng cho một số robot, cho phép robot di chuyên chính xác hơn với tốc độ cao hơn. Mẫu đầu tiên của kiểu thiết kế này là CMU Direct Drive Arm, được thiết kế bởi Kanade và Asaka tại Trường đại học Carneige Mellon của Mỹ vào năm 1981. Vào năm 1983, nhà khoa học Reymond Clavel đã cho ra mô hình robot Delta, gồm 3 khớp trượt và 1 khớp quay trong luận văn tiến sĩ của ông [13].

Với ý tưởng sử dụng cánh tay robot có chuỗi động học song song, gồm nhiều cánh tay có chuỗi động học kín, có cấu trúc gọn nhẹ dé thực hiện các tác vụ gắp và thả các vật nhẹ với tốc độ cao, thay vì sử dụng chuỗi động học nối tiếp như các robot trước đây. Kiến trúc động học của Delta tiếp tục được ứng dụng trong các robot song song khác. Cũng trong thập kỉ này, công ty Motoman thực hiện đồng bộ các robot với nhau trong quy trình sản xuất và cho ra bộ điều khiển MRC cho phép điều khiển 2 robot một cách đồng bộ (lên tới 21 trục) [7]. Tir năm 2000 trở đi: Từ cuối những năm 90, các công ty bắt đầu nghĩ cách đưa robot ra khỏi môi trường công nghiệp và ứng dụng vào các mảng khác như y tế, nông nghiệp, dịch vụ,.

Những robot này có bộ điều khiển có khả năng tính toán mạnh mẽ, không chỉ dừng lại ở việc phân tính dữ liệu mà còn có thé học và và tự đưa ra quyết định. Trí tuệ nhân tạo đã được ứng dụng mạnh mẽ đối với robot ở giai đoạn nay cùng với các cảm biến tinh vi và thuật toán điều khiển phức tạp. Tuy nhiên, trừ sự xuất hiện của cobot vào năm 2015, robot công nghiệp không có bước phát triển đáng ké nào như các thập kỉ trước dù robot công nghiệp đã phát triển một cách đáng kê về độ chính xác, tốc độ và độ chịu tải. Robot công nghiệp được sử dung trong quá trình vận chuyển wafer Ké từ sự ra đời của con chip máy tính đầu tiên, ngành công nghiệp bán dẫn đã phát triển mạnh mẽ theo mức số mũ.

Suốt năm thập kỉ qua, transistor trên từng miếng wafer càng ngày càng nhỏ dan và với sự ra đời của quy trình sản xuất wafer 300mm và sắp tới là 450mm, yêu cầu về độ sạch trong môi trường sản xuất wafer ngày càng được thắt chặt. Vì vậy, sự hiện diện của con người bên trong khu vực sản xuất wafer càng được hạn chế và việc tự động hóa các bước và quy trình trong khâu sản xuất được thực hiện triệt để. Các bước xử lý wafer đều được xử lý trong môi trường sạch. Để di chuyên tấm wafer từ buồng sạch này sang buồng sạch khác cho các quy trình khác nhau, việc bốc dỡ các tắm wafer khỏi buồng sạch và đưa vào các hộp chứa chuyên dụng đã trở thành quy chuẩn [15].

Các hộp chứa thường có nhiều khe ngăn được thiết kế song song với nhau có thiết kế khá tương tự với hộp đựng các sét (Hình 1-2). Hiện nay, chúng sẽ được van chuyền bởi máy móc theo các đường ray được lắp đặt trên tran nhà máy hoặc dưới sàn (Hình 1-3) thay vì vận chuyên bởi người như trước đây. Sau khi các hộp cassette này đã được di chuyên đến khâu làm việc kế tiếp như cây ghép ion, các khâu ăn mòn, CVD, in thạch bản,. các tam wafer được bốc dỡ ra khỏi hộp cassette và đưa vào buồng xử lý chân không trước khi được đưa vào buồng chính thực hiện tiếp công đoạn.

Sau khi thực hiện xong, robot wafer sẽ thực hiện nhiệm vụ bốc dỡ các tam wafer từ buồng sạch ra các hộp cassette và các hộp cassette chứa wafer tiếp tục được vận chuyên tới khâu tiếp theo. Robot wafer có đối tượng thao tác là các tam wafer có kích thước cực kì mỏng (dao động từ 279um+25um đến 775um+20um tùy vào đường kích wafer [16]), nhạy cảm với dao động và dễ bị biến dạng đòi hỏi robot khi di chuyển các tắm wafer cần di chuyền mượt mà và hạn chế việc tăng giảm tốc đột ngột để hạn chế rung lắc. Ngoài ra, về mặt vật liệu, thiết kế và việc dẫn động của robot cũng phải đáp ứng những yêu cầu riêng do hoạt động trong môi trường có yêu cầu khắt khe về độ sạch trong không khí hoặc môi trường chân không. Quan trọng không kém, nhằm tăng năng suất, tốc độ, độ chính xác, và độ 6n định cũng là yếu tố quyết định đến chất lượng của robot wafer.

Hình 1-3 Các thùng dung wafer được di chuyền đi bởi máy móc [16] 1. Phân loại wafer robot trên thị trường 1. Môi trường hoạt động của robot wafer >* Robot sử dung trong môi trường không khí Robot hoạt động trong môi trường không khí có yêu cầu cao về độ sạch cần được quan tâm về vật liệu thiết kế, việc truyền động không gây bụi ban và độ nhẫn bề mặt [18]. Những vật liệu thích hợp gồm có thép không ghỉ, nhôm, một vài loại nhựa và hợp chất và ceramic.

Thép không gỉ thường được sử dụng được sử dụng rộng rải cho các chi tiết máy di chuyền trong quá trình hoạt động như6 trục, trục vit me. và các chỉ tiết nhỏ như ốc, đai ốc,. Đối với các vật liệu cần phải co dan và phần sẽ tiếp xúc với wafer thường được làm từ các loại nhựa (PEEK, PFA, PTFE, Vespel, Viton và nhựa sillicon) [18]. Ngoài ra, bộ khung của robot thường được làm bằng nhôm.

Đối với khâu chấp hành cuối, các vật liệu phi kim loại cũng thường được sử dụng. Đặc biệt với ceremic tuy có giá thành cao nhưng có những đặc tính phù hop như độ sạch, độ cứng tốt, độ bền cao và chịu nhiệt, chịu mòn tốt. Các robot này được sử dụng các chất bôi trơn phù hợp trong môi trường sạch, là những chất có tính chất hóa học ồn định, không độc, vật liệu tổng hợp với áp suất bay hơi thấp và rat ít thoát khí [19]. Trong khi truyền động, các thành phan bên trong robot dùng đề truyền động sẽ sinh ra các hạt bụi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp với tiêu đề "Khóa Luận Tốt Nghiệp: Ứng Dụng Robot 3 Trục Trong Quy Trình Xử Lý Wafer" mang đến cái nhìn sâu sắc về việc ứng dụng công nghệ robot trong quy trình sản xuất wafer, một phần quan trọng trong ngành công nghiệp bán dẫn. Tài liệu này không chỉ trình bày các nguyên lý hoạt động của robot 3 trục mà còn phân tích hiệu quả của chúng trong việc tối ưu hóa quy trình xử lý, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ khóa luận này, bao gồm việc hiểu rõ hơn về công nghệ robot hiện đại và cách thức mà nó có thể cải thiện quy trình sản xuất. Đặc biệt, tài liệu này mở ra cơ hội cho những ai đang tìm kiếm giải pháp công nghệ tiên tiến trong ngành công nghiệp chế tạo.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về các ứng dụng công nghệ trong sản xuất, hãy tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ hcmute nghiên cứu thiết kế tính toán kết cấu và hợp lý hóa các thông số thiết kế cho cầu trục 20 5 tấn khẩu độ 30 mét tại xí nghiệp cơ điện ld việt nga vietsovpetro, nơi bạn có thể tìm hiểu về thiết kế kết cấu trong sản xuất. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ hcmute nghiên cứu phương pháp giảm rung bằng cơ cấu công xôn cho cán dao phay sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp cải tiến trong quy trình gia công. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật công nghiệp ứng dụng công nghệ sản xuất tinh gọn để nâng cao năng suất tại dây chuyền lắp ráp động cơ điện sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách tối ưu hóa quy trình sản xuất để đạt hiệu quả cao nhất.

Mỗi tài liệu đều là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của công nghệ trong sản xuất, từ đó mở rộng kiến thức và ứng dụng vào thực tiễn.