chương I là phần giới thiệu vấn dé nghiên cứu về chuỗi cung ứng đứa huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Để thực hiện đề tài tác giả phải dựa vào một số cơ sở lý luận về chuỗi giá trị, kênh phân phối cũng như một số phương pháp nghiên cứu được áp dụng, phần này được trình bày trong chương II. Đến với chương III, chúng ta có thể hình dung rõ hơn về tổng quan địa điểm nghiên cứu, khái quát kỹ thuật canh tác dứa mà người nông dân dang sử dụng, thực trạng sản xuất đứa của cả nước, đồng bằng sông Cửu Long và huyện Tân Phước. Nội dung trong những chương đầu là nền tảng cho phần nghiên cứu chính của tác giả trong chương IV.
Trong phần này sẽ thể hiện rõ những chuỗi giá trị, nhiệm vụ, mối liên kết giữa các thành phan trong chuỗi. Ngoài ra, tác giả còn có những tính toán về chỉ phí tiếp thị và khoản chênh lệch marketing, kết quả và hiệu quả của nông dân. Từ đó, tác giả có những kết luận về sự tác động của chuỗi giá trị đến. người nông dân, cùng với một số đề xuất nhằm phát trién thuận lợi, hạn chế SD nG:—:0NEINHIAM-EIRANNEE-—- = ORA 2S ER SS những khó khăn của người nông dan khi tham gia vào chuỗi, nhằm nâng cao năng lực sản xuất, phát triển hơn nghề trồng đứa tại địa phương.
Cuối cùng là phần kết luận và kiến nghị trong chương V. Tác giả có những kiến nghị đối với nhà nước tạo điều kiện cho mọi thành phan trong chuỗi nhất là người nông dân thông qua những chính sách, chương trình hỗ trợ áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Ngoài ra còn có những đơn vị cần liên kết với nhà nước là Viện Nghiên Cứu Cây An Quả miền Nam, Công ty Cổ phần Rau Quả Tiền Giang, Nông trường Tân Lập, và nông dân để cùng nhau thực hiện tốt các chương trình phát triển hơn vùng đứa. ee CHUONG 2 CO SO LY LUAN VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 2.
Chuỗi giá trị Định nghĩa chuỗi giá tri. Chuỗi giá trị được định nghĩa 1a “Một chu trình các hoạt động sản xuất hoặc dich vụ kể từ giai đoạn sáng chế, qua các quá trình sản xuất, phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, cũng như xử lý phế thải” (Kaplinsky,2000). Tiếp cân chuỗi giá tri. “Chuỗi giá trị được tổ chức do những liên kết giữa các nhóm nhà sản xuất, nhà buôn, nhà chế biến, và người cung cấp dịch vụ, người cùng tham gia để cải tiến năng suất và giá trị gia tăng của các hoạt động của họ.
Bằng cách cùng tham gia, những người tham gia vào chuỗi giá trị tăng tính cạnh tranh và có thể duy trì tính cạnh tranh này tốt hơn thông qua sự đổi mới. Những giới hạn của từng cá nhân người tham gia trong chuỗi được khắc phục bằng việc thiết lập tính hỗ trợ và các quy tắc quản trị nhằm tao ra giá trị cao hơn. Những lợi thế chính đối với những người tham gia thương mại đạt được từ việc là một phần của một chuỗi giá trị hiệu quả ở chỗ có thể giảm được chi phí trong việc kinh doanh, tăng doanh thu, tăng thế mạnh thương thuyết, cải thiện sự tiếp cận với công nghệ, thông tin, vốn, và bằng cách làm đó, đổi mới quá trình sản xuất và tiếp thị để đạt được giá trị cao hơn và cung cấp giá trị cao hơn cho khách hàng. Sự tiếp cận chuỗi giá trị chú trọng đến sự ảnh hưởng lẫn nhau của những người tham gia trong từng bước của chuỗi cung cấp.
Một sự tiếp cận như thế do đó tính đến mối quan hệ thương mại như là một phần của hàng loạt các mạng lưới làm việc của những nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, nhà chế biến và người bán lẻ, những người cung cấp dịch vụ, nhờ đó, kiến thức và môi quan hệ được phát triển để đạt được sự tiếp cận với thị trường và những người cung ứng. Thành công của những người tham gia trong việc tạo thêm giá trị cho sản xuất của họ trong việc tiếp cận mạng lưới làm việc nay. Những khái niệm chính trong phân (ích chuỗi giá trị. Mục đích của chuỗi giá trị là tổ chức mối liên kết kinh doanh bằng việc làm cho những người tham gia trong chuỗi giá trị làm việc cùng nhau.
Những thành phần tham gia khác nhau trong chuỗi muốn làm việc cùng nhau một cách hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp hiệu quả của các quyết định và trao đổi của họ. Nhu chúng ta biết, các nguyên tắc điều hòa sự phối hợp giữa một chuỗi giá trị cuối cùng sẽ tạo nên sự quản trị của chuỗi, để tăng giá trị chuỗi giá trị cần phải đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng. Mục tiêu đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng của chuỗi là chưa đủ; những người tham gia chuỗi giá trị cần phải đáp ứng nhu cầu của người tiêu đùng tốt hơn những người ở ngoài chuỗi giá trị; vì thế những người tham gia chuỗi giá trị cần phải có sự cạnh tranh. Chúng ta muốn giữ tính cạnh tranh thì phải đổi mới chuỗi giá trị liên tục, mặt khác những đạt được bước đầu của họ trong sự cạnh tranh sẽ bị ăn mòn theo thời gian.
Cuối cùng, để chuỗi có thể lập được những liên kết hiệu quả, chuỗi cần phân phối lợi ích có thể để tạo ra sự khuyến khích đối với những người tham gia. Nếu chỉ có một bên trong chuỗi giá trị giành tat cả lợi ích, chuỗi sẽ không thé bền lâu trong hệ thống thị trường. Kênh phân phối Thông tin cơ bản về kênh phân phối. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kênh phân phối (hay kênh marketing) dựa theo triển vọng hay quan điểm sử dụng.
Đôi khi ta thấy kênh phân phối 1a con đường di của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Đứng về phía người sản xuất, họ cho rằng kênh phân phối như là các hình thức di chuyển sản phẩm qua nhiều trung gian khác nhau (người trung gian như người bán buôn hay bán lẻ). Người tiêu dùng lại cho rằng kênh marketing đơn giản như là “Có nhiều trung gian” đứng giữa họ và người sản xuất. Cuối cùng người nghiên cứu quan sát kênh phân phối như nó hoạt động trong hệ thống kinh tế có thể mô tả nó trong các hình thức cấu trúc của nó và hiệu quả hoạt động của nó.
Các kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp. Sau khi đã tạo ra sản phẩm nông nghiệp, nhà sản xuất sẽ nghĩ đến con đường đưa sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng với chỉ phí thấp nhất và thời gian nhanh nhất. Qua sơ đồ các kênh phân phối chính của T. Vũ Đình Thắng, chúng ta sẽ thấy được điều này.
Một là, tùy vào mức độ sản xuất gắn kết với thị trường sản xuất nông nghiệp mà các kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp đựơc chia ra 3 cấp độ khác nhau; hai kênh đầu KI và KII là hai kênh ngắn nhất, mang tính trực tiếp, hoạt động chủ yếu ở nông thôn. Ba kênh giữa dài hơn phải qua 2 hay 3 khâu trung gian hoạt động dịch vụ cho người tiêu dùng thành thị vốn đông đúc và đòi hỏi sản phẩm chất lượng sản phẩm cao hon. Còn lại 2 kênh dài nhất KVI và KVII làm nhiệm vụ phân phối hàng nông sản xuất khẩu. Để sản phẩm đến tay người tiêu đùng cả nước nhập khâu, thông thường phải qua 5 khâu trung gian trong đó 2 khâu ở nước ta và 3 khâu ở nước nhập khẩu.
Hai là, ngoài 2 kênh ngắn trực tiếp hoạt động ở nông thôn ra thì trong 5 kênh còn lại, khâu trung gian đầu tiên đều là người thu gom hoặc người chế biến nhưng có chức năng thu mua và là chức năng đầu tiên. Đặc trưng này là phù hợp với yêu cầu thu gom lại các sản phẩm được sản xuất trên đồng ruộng của rất đông nông hộ, chủ trang trại và trải rộng trên các miền quê bao la vì: sản phẩm nông nghiệp không thể đưa ngay vào bán buôn hoặc sang cơ chế nếu chưa qua khâu tập trung, phân loại và xứ lý ban đầu. Ba là, về chủ kênh phân phối, người sản xuất nông nghiệp chỉ thực hiện được vai trò đó trong 2 kênh đầu hoạt động ở nông thôn. Bắt đầu từ kênh III đến kênh VII là do một người trung gian nào đó với vi thế của mình đứng ra làm chủ.
Trong kênh III chủ kênh là người bán lẻ thành thị. Trong kênh IV vai trò chủ kênh lại thuộc về người bán buôn thành thị. Còn ở kênh V hoặc là người chế biến hoặc là người bán buôn thành thị làm chủ. Đối với 2 kênh VI và VII là 2 kênh liên tiếp xuất, nhập khẩu nông sản trong thị trường thế giới thì lại có 2 người chủ của 2 đoạn kênh.
Người xuất khẩu là chủ đoạn kênh phía nước xuất khâu, và ở bên phía nước nhập khẩu người chủ kênh lại là người nhập khẩu. —~— ry YU`2ÿ135Ld04ESWugNrysXZU3uNX8Wr^y' NLqtXS1‘“+F\p1Ð)`YTO,Ar3wos0234JaQngya’hđGLộ8iUdeọeu'O7]q|WPt[YÑZụ°$ẦI5Slư$N#HIAữGđ Bốn là, người nông đân với tư cách là người sản xuất ở đầu kênh nhưng không phải là chủ kênh nên phần nhiều họ chỉ quan tâm đến khâu trung gian đầu tiên trực tiếp quan hệ với họ. Họ đòi hỏi những người trung gian quan hệ trực tiếp đó phải là những người kinh doanh mua bán rõ rang; mua hàng nhiều; lấy hàng nhanh, đúng hẹn, giá cả công khai, thanh toán sòng phẳng, không được đây dưa, nhập nhằng và có sự hỗ trợ về dịch vụ công nghệ và tài chính. Hợp đồng nông nghiệp Khái niệm cơ bản về hợp đồng nông nghiệp: Hợp đồng là một cơ chế quan trọng dé điều phối việc sản xuất, phân phối, và tiêu thụ sản phẩm, là công cụ gắn kết giữa các chủ thể của một chuỗi giá trị.
Eaton và Shepherd (2001) định nghĩa hợp đồng nông nghiệp có nghĩa là “thỏa thuận giữa những người nông dân và việc gia công và hay tiếp thị các công ty cho việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm nông nghiệp dựa trên thỏa thuận đã được ký kết thường là với giá cả đã được định trước”. Cụ thể theo Sykuta và Parcell (2002), một hợp đồng (trong nông nghiệp hay các mặt khác) đưa ra những luật lệ của việc giao dịch qua việc phân bố của 3 yếu tố chính: giá trị, rủi ro, và quyền quyết định. Một hợp đồng thành công do đó sẽ phân bé giá trị, rủi ro, và quyết định theo cách mà hai bên cùng có lợi, lý tưởng là cùng chỉa sẻ rủi ro và cùng cải tiến chất lượng và sản xuất. Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng ở Việt Nam mới chỉ phát triển gần đây.