Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây dứa (khóm) là một trong những loại cây ăn quả nhiệt đới có giá trị thương mại cao trên thế giới, đứng thứ ba sau chuối và cây có múi. Tại Việt Nam, dứa được canh tác rộng rãi tại nhiều địa phương, trong đó khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 43% diện tích và 54% tổng sản lượng cả nước (năm 2004 toàn quốc đạt 43.350 ha với sản lượng 422.251 tấn/năm). Huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang là vùng chuyên canh dứa trọng điểm trên vùng đất phèn với diện tích đạt 10.031 ha vào năm 2006, chủ yếu canh tác giống dứa Queen. Nông trường Tân Lập đóng vai trò nòng cốt khi sản lượng dứa chiếm khoảng 30% tổng sản lượng của toàn huyện Tân Phước.

Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất và tiêu thụ dứa tại địa bàn Nông trường Tân Lập bộc lộ nhiều bất cập:

  • Đất đai và giống cây dứa sau nhiều năm khai thác đã có hiện tượng thoái hóa, kỹ thuật canh tác của nông hộ chưa chuẩn hóa làm mất cân đối giữa độ ngọt và độ chua từ 3 đến 4 lần.
  • Các chỉ tiêu kim loại và vi lượng (Natri, chì, sắt) cùng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép, gây khó khăn cho việc ký kết hợp đồng xuất khẩu sang thị trường Châu Âu và Hoa Kỳ.
  • Nông trường Tân Lập gặp trở ngại lớn trong khâu quản lý và thu mua nguồn nguyên liệu khi chỉ thu mua được khoảng 30% tổng sản lượng của các hộ nhận khoán để cung ứng cho Công ty Cổ phần Rau Quả Tiền Giang (Vegetigi), phần lớn sản lượng còn lại bị thất thoát ra mạng lưới thương lái tự do.

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là đánh giá thực trạng tổ chức sản xuất, các kênh phân phối và chuỗi giá trị dứa tại huyện Tân Phước, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và tổ chức chuỗi cung ứng bền vững. Các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Tìm hiểu đặc điểm các hợp đồng giao nhận khoán được ký kết giữa Nông trường Tân Lập và nông hộ, làm rõ các cam kết và ràng buộc pháp lý - kinh tế.
  2. Đánh giá thực trạng canh tác, phân tích chi phí, kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ trồng dứa tại địa bàn.
  3. Phân tích cấu trúc các chuỗi cung ứng/chuỗi giá trị dứa tại địa phương, xác định chức năng, mối liên kết, sự phân phối chi phí - lợi nhuận giữa các tác nhân và tác động của chuỗi đến nông hộ.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức lại khâu phân phối và xây dựng mô hình sản xuất dứa theo tiêu chuẩn GAP (Good Agricultural Practices) phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chuỗi giá trị dứa, hoạt động sản xuất của nông hộ, cơ chế hợp đồng nhận khoán và hành vi của các tác nhân (nông hộ, Nông trường Tân Lập, thương lái, người bán sỉ, người bán lẻ, doanh nghiệp chế biến).
  • Không gian nghiên cứu: Địa bàn Nông trường Tân Lập (thuộc các xã Tân Lập 1, Tân Lập 2, Tân Hòa Thành) và các xã lân cận (Hưng Thạnh, Mỹ Phước), huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
  • Thời gian thực hiện: Đề tài được triển khai từ ngày 15/01/2006 đến ngày 15/07/2006 qua 5 giai đoạn (tiền trạm, hoàn thiện đề cương, thu thập số liệu sơ cấp, xử lý số liệu, hoàn chỉnh luận văn).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên các lý thuyết và mô hình kinh tế nông nghiệp:

  • Lý thuyết chuỗi giá trị (Value Chain): Tiếp cận theo định nghĩa của Kaplinsky (2000) về chuỗi giá trị như một chu trình toàn diện từ thiết kế, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến xử lý phế phẩm; phân tích mối liên kết, quy tắc quản trị chuỗi, khả năng đổi mới và phân phối lợi ích nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh.
  • Lý thuyết kênh phân phối nông sản: Vận dụng mô hình các cấp độ kênh marketing của TS. Vũ Đình Thắng (2001) để phân loại kênh ngắn (trực tiếp tại nông thôn), kênh trung gian phục vụ thị trường đô thị và kênh xuất khẩu dài hạn; nhận diện vai trò chủ kênh của từng tác nhân.
  • Lý thuyết hợp đồng nông nghiệp: Khái niệm theo Eaton & Shepherd (2001) và khung phân tích phân bổ ba yếu tố giá trị, rủi ro và quyền quyết định của Sykuta & Parcell (2002); phân tích mô hình hợp đồng hai cấp tại Việt Nam.
  • Tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (GAP): Khung tiêu chuẩn EurepGAP, nguyên tắc quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và quản lý mùa màng tổng hợp (ICM) nhằm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và an toàn thực phẩm.
  • Phương pháp tính toán chi phí tiếp thị và biên độ tiếp thị: Áp dụng phương pháp của Graham Dixie (FAO, 2005) để bóc tách chi phí chuẩn bị sản phẩm, đóng gói, vận chuyển, lưu trữ, sơ chế, hao hụt cơ học, chi phí cơ hội của vốn và tỷ suất chênh lệch marketing (marketing margin).

Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu:

  • Phương pháp mô tả và phương pháp lịch sử: Đánh giá diễn biến sản xuất, thay đổi cơ chế hợp đồng qua các thời kỳ.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 60 hộ trồng dứa tại địa bàn nghiên cứu bằng bảng câu hỏi soạn sẵn; phỏng vấn sâu thương lái, chủ vựa bán sỉ, người bán lẻ và khảo sát biến động giá dứa tại thị trường Tiền Giang và TP. Hồ Chí Minh.
Xã Ấp Số hộ điều tra Tỷ lệ (%)
Tân Lập 1 Ấp 1 11 18,33
Tân Lập 1 Ấp 4 3 5,00
Tân Lập 1 Ấp 5 6 10,00
Tân Lập 2 Tân Phong 8 13,33
Tân Lập 2 Tân Bình 5 8,33
Tân Lập 2 Tân Hòa 7 11,67
Tân Hòa Thành Tân Lợi 20 33,34
Tổng cộng 60 100,00
  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ Phòng Nông nghiệp huyện Tân Phước, Ban lãnh đạo Nông trường Tân Lập, Công ty Cổ phần Rau Quả Tiền Giang (Vegetigi), Viện Cây Ăn Quả Miền Nam (SOFRI) và Niên giám thống kê huyện.
  • Phương pháp phân tích kinh tế định lượng: Sử dụng phần mềm Excel và Word tính toán các chỉ tiêu tài chính nông hộ: Tổng chi phí sản xuất (vật chất, máy móc, lao động gia đình và thuê mướn), Doanh thu, Lợi nhuận, Thu nhập, Tỷ suất lợi nhuận/chi phí (Ts. LN/CP), Tỷ suất thu nhập/chi phí (Ts. TN/CP) và Hiệu quả kinh tế (Doanh thu/Tổng chi phí).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Đặt vấn đề

Chương này làm rõ vị trí chiến lược của cây dứa trong ngành cây ăn trái Việt Nam và thế giới. Tác giả trình bày các chỉ tiêu dinh dưỡng của quả dứa (độ Brix 12-15%, acid 0,6%, vitamin A 0,3 mg/100g, vitamin C 8,5 mg/100g, kali, canxi, magie) cùng các tiêu chuẩn thương phẩm trên thị trường (dứa loại 1 trên 1 kg; loại 2 từ 0,8 đến dưới 1 kg; loại 3 dưới 0,8 kg; loại vạt dưới 0,6 kg). Tác giả nêu bật mâu thuẫn thực tiễn tại Nông trường Tân Lập: vùng nguyên liệu dồi dào nhưng chất lượng không đồng đều, quy trình canh tác làm mất cân đối hóa - sinh trong quả và nông trường chỉ thu mua được khoảng 30% sản lượng. Chương này xác định rõ mục đích, 4 mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và phân kỳ 5 giai đoạn thực hiện luận văn.

Chương 2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về chuỗi giá trị nông sản, cấu trúc kênh phân phối hàng hóa nông nghiệp từ cấp độ trực tiếp đến xuất khẩu qua biên giới, vai trò của người điều phối kênh và các đặc trưng giao dịch của nông dân. Tác giả trình bày bản chất kinh tế của hợp đồng nông nghiệp, rủi ro phân phối và sự cần thiết của mô hình liên kết hai cấp. Khái niệm GAP, tiêu chuẩn EurepGAP và các thách thức khi áp dụng tại Việt Nam (quy mô vườn manh mún, lạm dụng hóa chất, công nghệ sau thu hoạch kém) được luận giải chi tiết. Đồng thời, chương này thiết lập công thức tính toán các khoản chi phí tiếp thị (chuẩn bị, bao bì, vận tải, hao hụt, kho bãi, tài chính) và phân bổ biên độ marketing, đi kèm các phương pháp thu thập số liệu sơ cấp (n=60) và hệ thống chỉ tiêu kinh tế nông hộ.

Chương 3. Tổng quan tình hình sản xuất và tiêu thụ dứa ở Việt Nam và đồng bằng sông Cửu Long

Chương 3 khái quát bức tranh toàn cảnh ngành dứa:

  • Thị trường thế giới có nhu cầu tiêu thụ rau quả tăng bình quân 3,6%/năm trong khi cung chỉ tăng 2,8%/năm. Nhu cầu tiêu thụ dứa tại Hoa Kỳ đạt 5,6 kg/người/năm. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu rau quả Việt Nam sụt giảm số lượng đối tác từ 42 nước (năm 2001) xuống 39 nước (2004) và 36 nước (2005) do hạn chế về chất lượng và kiểm dịch thực vật.
  • Cả nước có 15 nhà máy chế biến dứa với 9 dây chuyền đồ hộp (công suất 42.000 tấn sản phẩm/năm), 6 dây chuyền cô đặc (26.000 tấn/năm) và 6 dây chuyền đông lạnh.
  • ĐBSCL có 19.000 ha khóm nguyên liệu, chủ yếu trồng giống Queen (năng suất 12-20 tấn/ha, phẩm chất ăn tươi tốt) và diện tích nhỏ giống Cayenne (năng suất 35-40 tấn/ha, phù hợp chế biến). Hai đơn vị chế biến xuất khẩu chủ lực trong vùng là Vegetigi (10.000 tấn thành phẩm/năm) và Công ty Thực phẩm XNK Kiên Giang (5.000 tấn/năm).
  • Huyện Tân Phước quy hoạch 8.600 ha dứa (sản lượng trên 120.000 tấn/năm), triển khai dự án mở rộng lên 12.000 ha gồm 26 ô bao chống lũ (đã hoàn thiện 11 ô, nghiệm thu 7 ô; diện tích mở rộng 4.637,49 ha, thực hiện lên liếp 828/1000 ha đạt 82,8%, xuống giống 567/1000 ha đạt 56,7%). Chương này cũng mô tả điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng phèn và khí hậu của địa bàn nghiên cứu.

Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm của luận văn, trình bày qua các phân mục:

  • Đặc điểm hợp đồng khoán đất: Giai đoạn trước năm 2000, Nông trường đầu tư vật tư và bao tiêu toàn bộ sản phẩm. Từ năm 2000 đến thời điểm nghiên cứu, Nông trường chuyển sang cơ chế khoán mới: không đầu tư ứng trước, cho phép hộ khoán bán dứa ra bên ngoài với điều kiện thông báo và người mua đóng phí 40 đồng/kg. Tuy nhiên, việc thực thi thiếu chặt chẽ khiến nông dân thường xuyên bán trực tiếp cho thương lái nhằm tránh khấu trừ nợ và phí.
  • Hiệu quả kinh tế của nông hộ (số liệu năm 2005): Phân tích chi tiết cơ cấu chi phí vật chất (phân Urê, DAP, NPK, Lân, Kali, vôi, thuốc BVTV, khí đá xử lý ra hoa), chi phí lao động (làm đất, lên liếp, trồng, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển). Năng suất dứa tơ đạt tỷ lệ loại 1 tới 70%, nhưng các vụ sau giảm dần xuống 50% loại 1, 30% loại 2 và 20% loại 3.
  • Phân tích hai chuỗi giá trị dứa tại địa bàn:
    • Chuỗi giá trị dứa truyền thống: Nông dân $\rightarrow$ Thương lái $\rightarrow$ Người bán sỉ (vựa) $\rightarrow$ Người bán lẻ $\rightarrow$ Người tiêu dùng nội địa.
    • Chuỗi giá trị chất lượng: Nông dân $\rightarrow$ Nông trường Tân Lập / Thương lái $\rightarrow$ Công ty Vegetigi $\rightarrow$ Xuất khẩu / Thị trường cao cấp.
  • So sánh hành vi tiêu thụ giữa Nông trường và Thương lái: Giá thu mua của Nông trường dao động từ 850 đến 1.250 đồng/kg (yêu cầu chặt cuống/hoa cuộn, chỉ mua dứa xanh già bóng đến 1-2 mắt, thanh toán chậm 1-2 ngày, thủ tục đăng ký trước 1-3 ngày). Ngược lại, thương lái thu mua linh hoạt cả dứa xanh lẫn dứa chín (giá dứa chín cao hơn từ 200 - 400 đồng/kg, có thời điểm đạt trên 1.400 đồng/kg), mua xô không cần phân loại tỉ mỉ, thanh toán tiền mặt ngay tại vườn và ứng vốn trước không lãi suất.
  • Giải pháp phát triển: Đề xuất định hướng quy trình kỹ thuật đạt chuẩn EurepGAP theo lộ trình 2 năm (tập huấn IPM, ICM, xây dựng hợp tác xã dứa Tân Phước, thiết kế logo, đăng ký nhãn hiệu, xây dựng website thông tin toàn cầu) và tối giản hóa các khâu trung gian phân phối nhằm giảm thiểu hao hụt sau thu hoạch (vốn ở mức 10-50%).

Chương 5. Kết luận và kiến nghị

Chương 5 đúc kết các kết luận chính về tình trạng suy thoái vườn dứa, hạn chế trong cơ chế quản lý thu mua nguyên liệu của Nông trường Tân Lập. Tác giả đưa ra các kiến nghị đối với 4 nhóm chủ thể: Nhà nước và cơ quan nghiên cứu (UBND tỉnh, huyện, SOFRI); Công ty Vegetigi; Ban lãnh đạo Nông trường Tân Lập; và các hộ nông dân trồng dứa.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa và làm rõ thực trạng kinh tế của chuỗi ngành hàng dứa tại địa phương:

Tiêu chí so sánh Kênh Nông trường Tân Lập Kênh Thương lái tự do
Quy cách thu mua Chủ yếu dứa xanh (già bóng đến chín 1-2 mắt), cắt tỉa hoa cuộn Thu mua linh hoạt cả dứa xanh và dứa chín, mua xô hoặc phân hạng
Mức giá thu mua (năm 2005) 850 - 1.250 đồng/kg (tùy phẩm cấp) Cao hơn 200 - 400 đồng/kg đối với dứa chín (đạt 1.400 đồng/kg trở lên)
Hình thức thanh toán Thanh toán sau 1 - 2 ngày Trả tiền mặt ngay tại chỗ
Thủ tục giao nhận Đăng ký trước 1 - 3 ngày, vận chuyển đến bãi tập kết tập trung Thu mua tận vườn, điều động ghe/xe nhanh chóng, thu gom hết sản lượng phát sinh
Hỗ trợ tài chính Bảo lãnh vay vốn ngân hàng, không ứng vốn trực tiếp Đặt cọc tiền trước, bán chịu vật tư gối đầu, ứng vốn không tính lãi
Thị phần thu mua tại chỗ Khoảng 30% tổng sản lượng Khoảng 70% tổng sản lượng

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:

  • Xây dựng mô hình sản xuất dứa theo hướng GAP: Kết hợp Viện Nghiên cứu Cây Ăn Quả Miền Nam (SOFRI) chuyển giao quy trình kỹ thuật canh tác đồng bộ, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và quản lý mùa màng (ICM), kiểm soát chặt chẽ việc cách ly phân bón và thuốc BVTV 30 ngày trước thu hoạch.
  • Tổ chức lại thể chế nông dân: Vận động thành lập hợp tác xã hoặc tổ hợp tác do chính nông dân điều hành nhằm chia sẻ kinh nghiệm, tạo lập thương hiệu, logo dứa Tân Phước và nâng cao năng lực thương lượng giá.
  • Cải tiến cơ chế thu mua của Nông trường: Rút ngắn thời gian đăng ký và thanh toán tiền mặt cho hộ khoán; xây dựng thêm các lán, bãi tập kết gần vùng sản xuất; mở rộng thu mua linh hoạt cả dứa chín và dứa xanh; áp dụng chính sách nâng cấp sản phẩm (ghép loại 1 và loại 2 theo giá bình quân) để giữ chân nông hộ.
  • Thiết lập liên kết "4 nhà": Gắn kết chặt chẽ Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp (Vegetigi/Nông trường) - Nhà nông; đơn giản hóa chuỗi phân phối để cắt giảm chi phí trung gian và hạ tỷ lệ hao hụt hàng hóa (hiện ở mức 10-50%).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:

  • Dung lượng mẫu khảo sát trực tiếp nông hộ dừng lại ở 60 phiếu trên địa bàn một số xã trọng điểm của huyện Tân Phước, chưa bao quát toàn bộ các vùng trồng dứa khác tại ĐBSCL.
  • Dữ liệu chi phí và giá cả tập trung chủ yếu vào niên vụ 2005 - 2006, giai đoạn trước khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc thử nghiệm thực địa mô hình chuỗi dứa đạt chứng nhận EurepGAP/VietGAP hoàn chỉnh, lượng hóa cụ thể hiệu quả tài chính và khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu của hợp tác xã nông dân khi áp dụng quy trình chuẩn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên môn hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Phát triển Nông thôn, Khuyến nông, Kinh tế Nông nghiệp, Quản trị Kinh doanh Nông nghiệp thực hiện các đề tài về phân tích chuỗi giá trị và kênh phân phối nông sản.
  • Cán bộ quản lý tại các nông lâm trường quốc doanh, ban quản lý dự án nông nghiệp trong việc hoàn thiện cơ chế giao khoán đất và quản lý hợp đồng bao tiêu sản phẩm.
  • Doanh nghiệp chế biến rau quả xuất khẩu và các nhà hoạch định chính sách địa phương tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long khi xây dựng vùng nguyên liệu chuyên canh tập trung gắn với tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao Nông trường Tân Lập chỉ thu mua được khoảng 30% sản lượng dứa của các hộ nhận khoán? Nông trường chỉ thu mua được khoảng 30% sản lượng do quy trình thu mua kém linh hoạt hơn thương lái bên ngoài: nông dân phải đăng ký trước 1-3 ngày, việc điều động phương tiện vận chuyển đôi khi bị chậm trễ, thời gian thanh toán tiền kéo dài sau 1-2 ngày, chỉ tập trung mua dứa xanh và các bãi tập kết ở xa ruộng canh tác. Ngoài ra, việc nông dân bán cho Nông trường thường bị khấu trừ nợ cũ nên họ có xu hướng bán ra ngoài cho thương lái để nhận tiền mặt ngay với giá cao hơn.

2. Nông dân trồng dứa tại Nông trường Tân Lập nhận được những hình thức hỗ trợ vốn nào? Nông dân nhận được vốn thông qua ba nguồn chính: Nông trường Tân Lập đứng ra bảo lãnh pháp lý cho hộ khoán vay vốn ngân hàng thương mại; các đại lý vật tư nông nghiệp tại địa phương cho mua phân bón, thuốc BVTV theo phương thức trả chậm (gối đầu); và thương lái tự do ứng tiền cọc hoặc cho mượn vốn sản xuất trước mùa vụ không tính lãi suất nhằm đảm bảo quyền thu mua dứa khi thu hoạch.

3. Sự khác biệt cơ bản giữa giống dứa Queen và giống dứa Cayenne trong văn bản là gì? Giống dứa Queen có phẩm chất ăn tươi tốt, mùi thơm mạnh, vị ngọt đậm, ít chua, màu sắc quả đẹp nhưng năng suất bình quân chỉ đạt 12-20 tấn/ha (được nông dân Tân Phước canh tác đại trà). Giống dứa Cayenne có năng suất cao hơn hẳn (đạt 35-40 tấn/ha), trọng lượng quả lớn, tỷ lệ thịt quả cao và hình dáng rất phù hợp cho công nghiệp đóng hộp chế biến xuất khẩu, tuy nhiên ít được nông dân địa phương trồng do các nhà máy chế biến chưa triển khai hợp đồng bao tiêu bền vững.

4. Khóa luận nêu tỷ lệ hao hụt trong hệ thống phân phối rau quả tại Việt Nam là bao nhiêu? Theo số liệu trích dẫn từ các nhà khoa học trong luận văn, tổng mức hao hụt rau quả từ khâu thu hoạch của nông dân qua hệ thống phân phối trung gian (vận chuyển bằng xe máy cũ, xe thồ, bốc dỡ thô sơ) cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng ước tính lên tới 10% đến 50% khối lượng sản phẩm.

5. Mô hình sản xuất dứa theo tiêu chuẩn GAP được đề xuất gồm những giải pháp trọng tâm nào? Mô hình đề xuất gồm 4 giải pháp: (1) Tập huấn chuyển giao quy trình kỹ thuật canh tác mới gắn liền với quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và quản lý mùa màng tổng hợp (ICM); (2) Thành lập hợp tác xã/tổ hợp tác dứa Tân Phước do chính nông dân quản lý; (3) Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu, thiết kế logo và lập website quảng bá thông tin sản phẩm; (4) Tiến tới đánh giá và cấp chứng nhận vùng trồng đạt chuẩn an toàn quốc tế (EurepGAP/AseanGAP) dưới sự bảo lãnh và hỗ trợ kỹ thuật của SOFRI cùng chính quyền địa phương.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc đã phản ánh toàn diện thực trạng chuỗi giá trị và cơ chế hợp đồng nhận khoán cây dứa tại Nông trường Tân Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang giai đoạn năm 2005 - 2006. Nghiên cứu chỉ rõ những điểm nghẽn trong khâu quản lý nguồn nguyên liệu, sự cạnh tranh giữa Nông trường và thương lái tự do, cùng các hạn chế về chất lượng thương phẩm do đất đai thoái hóa và kỹ thuật canh tác chưa chuẩn mực. Các giải pháp tổ chức lại chuỗi phân phối gắn với lộ trình áp dụng tiêu chuẩn EurepGAP và củng cố liên kết "4 nhà" là định hướng thiết thực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho vùng chuyên canh dứa Tân Phước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.