Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phân loại tài liệu là hoạt động chuyên môn nền tảng tại các cơ quan thông tin – thư viện, giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức, sắp xếp kho tài liệu và thiết lập ngôn ngữ tìm tin cũng như các điểm truy cập cho bộ máy tra cứu. Trong bối cảnh công nghệ thông tin và viễn thông phát triển mạnh mẽ, nguồn tin khoa học liên tục gia tăng, yêu cầu chuẩn hóa nghiệp vụ để chia sẻ tài nguyên thông tin trên quy mô toàn cầu trở thành đòi hỏi cấp thiết.

Khung phân loại thập phân Dewey (DDC) là công cụ phân loại được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới, hiện diện tại hơn 200.000 thư viện ở trên 135 quốc gia và đã được biên dịch ra 35 ngôn ngữ. Nguyên bản tiếng Anh của DDC đã phát triển đến ấn bản đầy đủ lần thứ 22 và ấn bản rút gọn lần thứ 14. Tại Việt Nam, trước năm 2006, DDC từng được tiếp cận dưới dạng các bản dịch nội bộ, bản dịch rút gọn lần thứ 9 của bà Nguyễn Thị Cút tại miền Nam trong thập niên 1960, hoặc sử dụng trực tiếp qua các bản tiếng Anh, tiếng Pháp nhưng chưa có bản quyền chính thức từ Trung tâm Thư viện tin học hoá trực tuyến Hoa Kỳ (OCLC).

Nhằm thống nhất nghiệp vụ quốc gia song hành cùng các chuẩn biên mục MARC 21 và quy tắc AACR2, dự án biên dịch và thích nghi Khung phân loại DDC rút gọn 14 sang tiếng Việt đã được triển khai và chính thức công bố vào tháng 8/2006. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Linh (chuyên ngành Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2007) được thực hiện nhằm nghiên cứu có hệ thống về ấn bản mới này.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nhiệm vụ:

  1. Mục đích thứ nhất: Tìm hiểu cấu trúc, đặc điểm cùng các ưu điểm và nhược điểm của Khung phân loại DDC rút gọn 14 nguyên bản tiếng Anh.
  2. Mục đích thứ hai: Tìm hiểu quá trình triển khai Việt hoá DDC rút gọn ấn bản 14 tại Việt Nam, nội dung chính được thích nghi, mở rộng và phương pháp sử dụng khung phân loại này.
  • Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc, đặc điểm của Khung phân loại DDC rút gọn 14 cùng kết quả biên dịch, mở rộng và triển khai Việt hoá.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát ấn bản DDC rút gọn 14 nguyên bản tiếng Anh (xuất bản năm 2004) và ấn bản DDC rút gọn 14 tiếng Việt (xuất bản tháng 8/2006), đặt trong thực tiễn hoạt động phân loại và chuẩn hóa nghiệp vụ thư viện tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận của khoa học thông tin, thư viện học và khoa học phân loại tài liệu; đồng thời vận dụng các nguyên tắc tổ chức tri thức của hệ thống phân loại thập phân do Melvil Dewey xây dựng, các quy chuẩn biên tập của Ủy ban Chính sách Biên tập Khung phân loại Dewey (EPC) và tiêu chuẩn quản lý của OCLC.

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu học thuật sau:

  • Phương pháp logic và lịch sử: Phân tích tiến trình phát triển qua 22 lần xuất bản của DDC từ năm 1876 đến nay, gắn liền với hai thời kỳ lịch sử (thời kỳ Dewey còn sống và thời kỳ sau khi Dewey qua đời); đồng thời hệ thống hóa tiến trình tiếp cận DDC tại Việt Nam qua các hội thảo chuyên môn từ năm 2000 đến 2006.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Khảo sát chi tiết các thành phần cấu tạo của khung phân loại bao gồm Bảng chính (10 lớp cơ bản), hệ thống 4 Bảng phụ trợ (Bảng 1 đến Bảng 4), hệ thống ký hiệu/dấu quy ước và Bảng chỉ mục quan hệ (Relative Index).
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu trực tiếp giữa bản dịch DDC Việt hoá 14 với nguyên bản DDC rút gọn 14 tiếng Anh; so sánh các phân mục mở rộng của Việt Nam với các chỉ số trong ấn bản đầy đủ DDC 22 và đối chiếu với cách phân chia thời kỳ lịch sử trong Khung phân loại 19 lớp truyền thống của các thư viện khoa học tổng hợp Việt Nam.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu:

  • Văn bản Khung phân loại DDC rút gọn 14 nguyên bản tiếng Anh (2004) và ấn bản DDC rút gọn 14 tiếng Việt (2006).
  • Văn bản Khung phân loại DDC ấn bản đầy đủ lần thứ 22 (2003).
  • Tài liệu lưu trữ và văn kiện từ các cuộc hội thảo chuyên đề: Hội thảo "Dịch và nghiên cứu áp dụng Bảng phân loại Dewey vào công tác thư viện ở Việt Nam" (tháng 3/2000) và Hội thảo "Hệ thống và Tiêu chuẩn cho Thư viện Việt Nam" (tháng 9/2001).
  • Báo cáo kết quả dự án dịch DDC do Thư viện Quốc gia Việt Nam chủ trì với sự giám sát của Viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT) và tài trợ từ Quỹ Từ thiện Đại Tây Dương (Atlantic Philanthropies).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Khái quát về Khung phân loại Thập phân Dewey (DDC) rút gọn 14 (Nguyên bản tiếng Anh)

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử ra đời và các mốc xuất bản của DDC từ năm 1876 với 10 lớp chính và 1.000 đề mục (000–999). Quá trình tái bản 22 lần được phân thành hai giai đoạn: thời kỳ Melvil Dewey còn sống (1876–1931 với 12 lần tái bản, trong đó ấn bản thứ 2 năm 1885 đặt nền tảng hình thức và chính sách cốt lõi) và thời kỳ từ năm 1932 đến nay (10 lần tái bản). Chương này điểm qua các dấu mốc kỹ thuật quan trọng như việc bổ sung các bảng phụ trợ (Bảng địa lý, Bảng tra chữ cái ở ấn bản 17 năm 1965; bổ sung 5 bảng phụ ở ấn bản 18 năm 1971), sự ra đời của Dewey điện tử trên môi trường DOS lưu trên CD-ROM (1993), Dewey for Windows (1996) và ấn bản rút gọn 14 (2004) tương ứng với bản đầy đủ 22.

Về mặt cấu trúc, DDC rút gọn 14 nguyên bản tiếng Anh bao gồm 10 lớp chính trong Bảng chính và 4 bảng phụ:

Bảng / Lớp Tên gọi và Ký hiệu Nội dung và Chức năng
000 Tổng loại Tin học, thông tin và tác phẩm tổng quát
100 Triết học Triết học, tâm lý học và các ngành liên quan
200 Tôn giáo Tôn giáo học, các hệ thống tín ngưỡng
300 Các khoa học xã hội Xã hội học, chính trị, luật pháp, kinh tế, giáo dục
400 Ngôn ngữ Ngôn ngữ học và các ngôn ngữ cụ thể
500 Khoa học tự nhiên và toán học Toán học, thiên văn, vật lý, hóa học, sinh học
600 Kỹ thuật Kỹ thuật, y học, nông nghiệp, công nghệ ứng dụng
700 Mỹ thuật và trang trí Nghệ thuật, âm nhạc, giải trí, thể thao
800 Văn học và tu từ học Tác phẩm văn học, phê bình, tu từ học
900 Địa lý, lịch sử và các ngành liên quan Lịch sử thế giới, địa lý, tiểu sử
Bảng 1 Tiểu phân mục chung (-01 đến -09) Dùng kết hợp: Triết học (-01), Từ điển (-03), Lịch sử (-09)...
Bảng 2 Khu vực địa lý và con người (-1 đến -9) Địa danh toàn cầu: Cổ đại (-3), Châu Âu (-4), Châu Á (-5)...
Bảng 3 Tiểu phân mục văn học (-1 đến -8) Dành riêng cho lớp 800: Thơ (-1), Kịch (-2), Tiểu thuyết (-3)...
Bảng 4 Tiểu phân mục từng ngôn ngữ (-1 đến -8) Dành riêng cho lớp 400: Âm vị (-1), Từ điển (-3), Ngữ pháp (-5)...

Hệ thống dấu quy ước trong DDC rút gọn 14 gồm: dấu chấm thập phân (.) sau 3 chữ số đầu để phân cấp chi tiết; dấu ngoặc vuông [ ] chỉ các ký hiệu hiện không dùng hoặc đã chuyển vị trí; dấu ngoặc đơn ( ) chỉ các ký hiệu lựa chọn tùy chọn.

Tác giả phân tích các đặc điểm mới của ấn bản 14: đây là ấn bản rút gọn đầu tiên phát triển trong môi trường Web (cập nhật từ dữ liệu hàng tháng trên www.org/dewey từ 1997 và Web Dewey rút gọn từ 1/2002); cập nhật chủ đề mới trong tin học, y học, luật pháp; hợp tác với EPC để chuẩn hóa thuật ngữ; giảm tính thiên lệch Thiên chúa giáo ở lớp 200; cập nhật lớp 305–306, 340 (Luật), 510/518 (Toán học số), 610 (Y học) và chuyển các phương tiện cho du khách từ 647.46 sang 913–919.

Về đánh giá:

  • Ưu điểm: Nguyên tắc thập tiến dễ nhớ; ký hiệu số Ả Rập đồng nhất thuận lợi cho tự động hóa; tính quốc tế cao; có ban biên tập cập nhật thường xuyên.
  • Nhược điểm: Mang nặng tính tư tưởng phương Tây (xếp Chủ nghĩa cộng sản 320.532 ngang hàng Chủ nghĩa phát xít 320.533; Chủ nghĩa tập thể 320.53 ngang Chủ nghĩa xã hội 320.531); quan niệm sắp xếp kiến trúc thượng tầng trước cơ sở hạ tầng; tách rời các môn khoa học gần gũi (Ngôn ngữ 400 tách rời Văn học 800; Lịch sử 900 tách rời Khoa học xã hội 300); phân bố dung lượng mất cân đối, tập trung quá lớn vào các nước Âu – Mỹ.

Chương 2. Giới thiệu về Khung phân loại DDC Việt hoá 14, phương pháp sử dụng và khả năng áp dụng ở Việt Nam

Chương 2 trình bày tiến trình dự án Việt hóa DDC rút gọn 14, bắt đầu chuẩn bị từ tháng 3/2000 qua hội thảo của Vụ Thư viện, tiếp nối bởi hội thảo tháng 9/2001 do RMIT và Quỹ Từ thiện Đại Tây Dương tổ chức với sự tham dự của bà Joan Mitchell (Tổng biên tập DDC của OCLC). Hợp đồng dịch thuật được ký kết giữa Thư viện Quốc gia Việt Nam và OCLC. Dự án thực hiện từ tháng 11/2003 đến tháng 10/2005 với sự trợ giúp của phần mềm chuyên dụng Pansoft (CHLB Đức). Sau 7 kỳ họp thẩm định của Hội đồng tư vấn chuyên gia trong nước và sự phê duyệt của TS. Julianne Beall (Phó Tổng biên tập DDC, đại diện OCLC và Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ), bản dịch được hoàn thành, gửi in ngày 01/07/2006 và ra mắt vào tháng 8/2006.

Việc thích nghi và mở rộng DDC 14 tiếng Việt tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc biên tập của EPC: có căn cứ khoa học tài liệu Việt Nam, bảo đảm tính liên tác (Interoperability) với hệ thống DDC quốc tế, tương thích cấu trúc và cân đối dung lượng.

Khóa luận phân tích chi tiết sự giống và khác nhau giữa hai bản:

Nội dung đối chiếu DDC rút gọn 14 (Tiếng Anh) DDC Việt hoá 14 (Bản dịch tiếng Việt)
Cấu trúc tổng quát 10 lớp chính, 4 bảng phụ, số Ả Rập Giữ nguyên cấu trúc 10 lớp chính và 4 bảng phụ
Lịch sử Việt Nam (959.7) Chỉ có phân mục 959.704 (1949–nay), mốc 1900–1949 xếp vào 959; sơ sài và thiếu chính xác Mở rộng chi tiết theo mốc lịch sử chính thống: 959.701 (Tiền sử–1945), 959.702 (Phong kiến 939–1883), 959.703 (Pháp thuộc 1884–1945), 959.7041 (1945–1954), 959.7043 (1961–1975), 959.70441 (1975–1986), 959.70442 (Đổi mới 1986–nay)
Chiến tranh 1961–1975 (959.7043) Chưa phân định lực lượng và địa phương cụ thể Phân lập rõ: Miền Bắc (959.704 331), Miền Nam (959.704 332), MTDTGPMNVN (959.704 332 2), VNCH (959.704 332 5), Mỹ tham gia (959.704 3373)
Địa lý Việt Nam (Bảng 2: -597) Chỉ có trợ ký hiệu chung -597 Chi tiết hóa thành 9 vùng địa lý tự nhiên (-5971 đến -5979) và 64 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; bổ sung chỉ dẫn địa danh cụ thể
Dân tộc Việt Nam (305.895) Thuật ngữ khái quát về Đông và Đông Nam Á Chi tiết hóa toàn diện 54 thành phần dân tộc: Kinh (305.895 922), Tày (305.895 91), Tạng - Miến, Môn - Khơme, Mông - Dao, Nam Đảo...
Ngôn ngữ & Văn học (495.9 & 895.9) Ký hiệu chung cho ngôn ngữ/văn học Đông Nam Á Mở rộng chi tiết cho tiếng nói, chữ viết (chữ Nôm, Quốc ngữ 495.978) và văn học Việt Nam (895.922) cùng văn học các dân tộc thiểu số
Chính đảng (324.259 7) Không có phân mục riêng cho Việt Nam Bổ sung mới hoàn toàn ký hiệu 324.259 7; trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam mang ký hiệu 324.259 707 phân kỳ theo lịch sử
Chủ nghĩa Mác - Lênin & Tư tưởng Hồ Chí Minh 320.53 xếp chung với phát xít; 335.4 chung chung Tách Mác - Lênin khỏi phát xít; bổ sung ký hiệu độc lập 335.4346 cho Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam và Tư tưởng Hồ Chí Minh
Bảng chỉ mục quan hệ Mục từ tiếng Anh nguyên gốc Việt hóa bảng chữ cái; bổ sung từ đồng nghĩa Bắc – Nam (heo/lợn, sinh tố/vitamin); thêm/bớt từ hạn định; tách/nhập mục từ theo ngữ cảnh

Chi tiết 9 vùng địa lý tự nhiên của Việt Nam được chuẩn hóa trong Bảng 2:

  • -5971: Vùng núi Bắc Bộ (phân nhánh chi tiết các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình)
  • -5972: Miền Trung du Bắc Bộ (kèm chỉ dẫn Quảng Ninh, Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long...)
  • -5973: Vùng Đồng bằng sông Hồng
  • -5974: Vùng ven biển Bắc Trung Bộ (kèm chỉ dẫn Dãy Trường Sơn, Sông Gianh, Động Phong Nha, Đồng Hới...)
  • -5975: Vùng ven biển Nam Trung Bộ (kèm chỉ dẫn Non Nước, Hoàng Sa...)
  • -5976: Vùng Tây Nguyên
  • -5977: Vùng Đông Nam Bộ
  • -5978: Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
  • -5979: Vùng Đồng bằng sông Hậu

Về phương pháp sử dụng, tác giả trình bày quy trình phân loại gồm hai bước:

  1. Xác định chủ đề của tài liệu: Dựa vào ý định của tác giả thể hiện qua nhan đề, bảng mục lục, lời nói đầu/lời giới thiệu, tóm tắt bìa sách, duyệt lướt chính văn, thư mục tài liệu tham khảo và dữ liệu Biên mục trên xuất bản phẩm (CIP).
  2. Xác định ngành của tài liệu: Tuân thủ nguyên tắc xếp tài liệu vào ngành mà tài liệu đó đề cập (không phân theo ngành xuất xứ của tác giả); sau đó tra cứu Bảng chính, kết hợp Bảng phụ trợ và Bảng chỉ mục quan hệ để định ký hiệu chính xác.

Chương 3. Một số nhận xét và kiến nghị

Tác giả đánh giá DDC Việt hoá 14 là công cụ phân loại khoa học, việc biên dịch và mở rộng đã giải quyết được những bất cập về mặt học thuật và chính trị, tạo tiền đề để chuẩn hóa nghiệp vụ thư viện Việt Nam hội nhập quốc tế.

Nhằm phát huy hiệu quả của khung phân loại, tác giả đưa ra 7 kiến nghị cụ thể:

  1. Ban hành văn bản công nhận và áp dụng DDC như một khung phân loại chuẩn thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
  2. Tổ chức phổ biến và triển khai áp dụng rộng rãi DDC Việt hoá 14 trong hệ thống các cơ quan thông tin – thư viện cả nước.
  3. Chuẩn bị các điều kiện tiến tới xây dựng dự án biên dịch Khung phân loại DDC ấn bản đầy đủ lần thứ 22 sang tiếng Việt.
  4. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ và kỹ năng nghiệp vụ phân loại DDC cho đội ngũ cán bộ thông tin – thư viện.
  5. Nghiên cứu, biên soạn giáo trình chuẩn về Khung phân loại DDC để đưa vào giảng dạy chính khóa tại các trường có chuyên ngành đào tạo thông tin – thư viện.
  6. Xây dựng chuyên trang trên Website của Thư viện Quốc gia Việt Nam nhằm tạo diễn đàn trao đổi nghiệp vụ, hướng dẫn áp dụng và cập nhật thông tin DDC thường xuyên.
  7. Tìm kiếm các nguồn kinh phí tài trợ trong và ngoài nước để tổ chức các hội thảo chia sẻ kinh nghiệm sử dụng DDC và tạo nguồn lực tài chính cho việc dịch bản đầy đủ DDC 22.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính:

    • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, lịch sử 22 lần xuất bản và cấu trúc nghiệp vụ của DDC rút gọn 14 nguyên bản tiếng Anh.
    • Tư liệu hóa đầy đủ tiến trình thực hiện Dự án dịch DDC 14 tiếng Việt từ giai đoạn hội thảo trù bị (2000–2001), triển khai biên dịch bằng phần mềm Pansoft với sự tài trợ của Atlantic Philanthropies (2003–2005), đến khi được EPC/OCLC phê duyệt và xuất bản chính thức (2006).
    • Phân tích chi tiết và đối chiếu các mảng nội dung được thích nghi, mở rộng đặc thù của Việt Nam trong DDC 14: Lịch sử (959.7), Địa lý 9 vùng và 64 tỉnh/thành phố (Bảng 2: -597), 54 dân tộc (305.895), Ngôn ngữ (495.9), Văn học (895.9), Đảng phái chính trị (324.259 7) và định danh Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam/Tư tưởng Hồ Chí Minh (335.4346).
    • Khái quát quy trình thực hành phân loại tài liệu theo DDC Việt hóa 14 thông qua các bước xác định chủ đề và ngành tri thức.
  • Giải pháp và kiến nghị: Đề xuất hệ thống 7 giải pháp đồng bộ bao gồm: pháp lý hóa khung phân loại chuẩn quốc gia, mở rộng diện áp dụng, xây dựng lộ trình dịch bản DDC 22 đầy đủ, đào tạo lại cán bộ, chuẩn hóa giáo trình giảng dạy đại học, lập diễn đàn nghiệp vụ trực tuyến và huy động tài trợ.

  • Đóng góp của khóa luận: Đây là một trong những công trình nghiên cứu học thuật cấp khóa luận tốt nghiệp đầu tiên phân tích chuyên sâu về cấu trúc, nội dung mở rộng và phương pháp ứng dụng của ấn bản DDC Việt hóa 14 ngay sau khi ấn bản này được ban hành; đóng góp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu lý luận phân loại học và đào tạo nghiệp vụ thư viện tại Việt Nam.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Nghiên cứu được thực hiện tại thời điểm ấn bản DDC Việt hóa 14 mới phát hành (năm 2006–2007), số lượng công trình nghiên cứu và bài viết công bố liên quan còn hạn chế.
    • Khóa luận mới chỉ tập trung phân tích ấn bản rút gọn (Abridged Edition) mà chưa đi sâu vào toàn bộ hệ thống ký hiệu của ấn bản đầy đủ DDC 22 do điều kiện dịch thuật tại thời điểm nghiên cứu chưa cho phép.
    • Chưa tiến hành khảo sát định lượng diện rộng về thực trạng chuyển đổi và mức độ sai sót nghiệp vụ thực tế của cán bộ phân loại tại các thư viện sau khi tiếp nhận DDC Việt hoá 14.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả áp dụng DDC Việt hoá 14 tại các hệ thống thư viện công cộng và thư viện trường đại học sau một thời gian vận hành thực tế.
    • Nghiên cứu phương án chuẩn bị cơ sở dữ liệu và thuật ngữ để triển khai dự án dịch thuật ấn bản DDC đầy đủ lần thứ 22 sang tiếng Việt.
    • Khảo sát sự tích hợp giữa bảng phân loại DDC Việt hoá với định dạng biên mục máy MARC 21 trong các hệ thống phần mềm quản trị thư viện tích hợp.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên ngành Thông tin – Thư viện: Sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu chuyên sâu về môn học Phân loại tài liệu và Tổ chức thông tin.
    • Cán bộ làm công tác xử lý nghiệp vụ (biên mục, phân loại): Sử dụng làm tài liệu tra cứu, nắm bắt các ký hiệu mở rộng đặc thù của Việt Nam và quy tắc định chỉ số phân loại theo DDC.
    • Cán bộ quản lý thư viện: Tham khảo các luận cứ khoa học để xây dựng kế hoạch chuyển đổi khung phân loại và chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ theo chuẩn quốc tế.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Toàn bộ Chương 2, đặc biệt là bảng phân tích chi tiết các chỉ số mở rộng về lịch sử Việt Nam (959.7), địa lý 64 tỉnh thành (Bảng 2: -597), phân loại 54 dân tộc (305.895), và hướng dẫn phương pháp xác định chủ đề tài liệu phục vụ phân loại thực hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Dự án biên dịch DDC rút gọn 14 tiếng Việt được triển khai trong thời gian nào và do cơ quan nào chủ trì?
Dự án được khởi động đàm phán từ năm 2001, ký hợp đồng chính thức với OCLC và bắt đầu thực hiện từ tháng 11/2003 đến tháng 10/2005; do Thư viện Quốc gia Việt Nam làm chủ dự án với sự tài trợ của Quỹ Từ thiện Đại Tây Dương (Atlantic Philanthropies) và giám sát của Viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT). Ấn bản chính thức ra mắt vào trung tuần tháng 8/2006.

2. DDC Việt hoá 14 đã khắc phục hạn chế của nguyên bản tiếng Anh ở môn loại Lịch sử Việt Nam (959.7) như thế nào?
Nguyên bản tiếng Anh chỉ có một mục sơ sài 959.704 (từ 1949 đến nay) và gộp giai đoạn 1900–1949 vào 959. Bản dịch Việt hóa đã phân chia chi tiết theo lịch sử chính thống: 959.701 (Tiền sử đến 1945), 959.702 (Thời kỳ phong kiến độc lập 939–1883 qua các triều đại), 959.703 (Thời kỳ Pháp thuộc 1884–1945), 959.7041 (1945–1954), 959.7043 (Chiến tranh 1961–1975 phân định rõ các lực lượng), 959.70441 (Thống nhất 1975–1986) và 959.70442 (Đổi mới từ 1986).

3. Bảng phụ địa lý (Bảng 2) của Việt Nam trong DDC Việt hoá 14 được mở rộng gồm những cấp độ nào?
Tiểu phân mục -597 dành cho Việt Nam trong Bảng 2 được chi tiết hóa thành 9 vùng địa lý tự nhiên (-5971 đến -5979) và toàn bộ 64 đơn vị hành chính tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (59 tỉnh và 5 thành phố thời điểm 2006), đi kèm các ghi chú địa danh tự nhiên và danh thắng cụ thể (Hạ Long, Phong Nha, Trường Sơn, Hoàng Sa...).

4. Khung DDC Việt hoá 14 xử lý chỉ số phân loại cho Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào?
Bản dịch đã chỉnh lý để tách Chủ nghĩa Mác – Lênin khỏi ký hiệu chung với Chủ nghĩa phát xít ở 320.53; đồng thời tại mục 335.4 đã chỉnh lý và mở rộng để phản ánh chi tiết hệ thống Mác-xít, trong đó lần đầu tiên đưa Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam và Tư tưởng Hồ Chí Minh vào khung DDC với ký hiệu độc lập là 335.4346.

5. Cán bộ phân loại cần thực hiện các bước cơ bản nào để xác định chỉ số DDC cho một tài liệu?
Người phân loại thực hiện quy trình 2 bước: Bước 1 là xác định chủ đề của tài liệu (qua phân tích nhan đề, mục lục, lời giới thiệu, tóm tắt, duyệt lướt văn bản, CIP); Bước 2 là xác định ngành tri thức mà tài liệu đề cập đến (theo nguyên tắc phân loại theo ngành nội dung, không theo ngành của tác giả), sau đó tra cứu Bảng chính kết hợp các Bảng phụ trợ (1–4) và Bảng chỉ mục quan hệ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Linh đã khảo cứu toàn diện Khung phân loại DDC rút gọn 14 nguyên bản tiếng Anh và kết quả biên dịch, thích nghi của ấn bản DDC Việt hoá 14 năm 2006. Công trình làm rõ các điểm bổ sung, mở rộng quan trọng mang tính lịch sử về địa lý, dân tộc, lịch sử, văn học và chính trị của Việt Nam trên cơ sở bảo đảm tính liên tác với hệ thống DDC quốc tế của OCLC. Các đề xuất, kiến nghị được tác giả đưa ra có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác chuẩn hóa nghiệp vụ và đào tạo chuyên ngành Thông tin – Thư viện tại Việt Nam.