MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề Nấm sò (hay còn được gọi là nấm bào ngư) có tên khoa học là Pleurotus Ostreatus, tên tiếng anh là Oyster Mushroom, Oyster fungus hoặc hiratake. Nấm sò có hơn 40 loại khác nhau (Kues and Liu, 2000), chúng được nghiên cứu ở Hà Lan và sau này được nghiên cứu mở rộng để trồng ở Đức. Chúng được dùng như nguồn thực phẩm khẩn cấp trong thế chiến thứ nhất (Kaufert F et al.
Nghiên cứu bằng văn bản đầu tiên về lợi ích sức khỏe của nấm đã được ghi lại bởi nhà nghiên cứu Frank H.Kaufert từ đại học Minnesonta vào năm 1936. Nấm sò không chỉ có hương vị thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng, được sử dụng rộng rãi trên thị trường, giá thành rẻ mà nó còn có tác dụng dược tính như chống oxy hóa, cải thiện sức khỏe tim mạch, thúc đẩy điều hòa huyết áp, hỗ trợ hệ miễn dịch, ngăn ngừa một số bệnh như béo phì, dạ dày, ung thư (Nguyễn Thị Lâm Hải và cs, 2017). Một nghiên cứu về chuột năm 2020 cho thấy rằng chiết suất PSP từ nấm P.Ostreatus có tác dụng chống oxy hóa, giúp làm giảm tổn thương gan do hóa chất độc hại gây ra (N.Abdel-Monem et al 2020). Trên thế giới, nấm sò đứng thứ 3 về lượng sản xuất thương mại, trong đó Trung Quốc chiếm 85% thị trường xuất khẩu thế giới, xếp sau là các nước Italia, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia và nhiều quốc gia khác (Mendez et al 2005; Sarangi et al.
2006; Sher et al. Với nguồn khí hậu thuận lợi, cùng với lợi thế về nguồn giá thể nuôi trồng nấm dồi dào như: rơm rạ, bông hạt, mùn cưa, lõi ngô,… Nhưng Việt Nam vẫn chưa thể phát huy được hết thế mạnh trong sản xuất nấm. Theo một báo cáo tài chính (Dựa trên số liệu của FAO) từ trang TRIDGE của Mỹ số lượng người tiêu dùng nấm sò ở Việt Nam khá cao nhưng xếp hạng xuất khẩu của Việt Nam lại ở mức khá thấp, xấp xỉ 24 nghìn tấn và xếp thứ 20 trên thế giới (N Devochkina et al 2019), không những vậy Việt Nam vẫn cần nguồn cung nấm từ các quốc gia láng giềng, điển hình là Trung Quốc. Ở Việt Nam nguyên liệu nuôi trồng nấm sò rất đa dạng và phong phú.
Hiện nay 1 nguồn giống nấm sò được nuôi trồng chủ yếu ở Việt Nam là giống nhập từ nước ngoài. Việc tuyển chọn ra nguồn giá thể phù hợp với điều kiện tự nhiên và cho ra năng suất cao đáp ứng nhu cầu thị trường là rất cần thiết. Đề tài “Khảo sát ảnh hƣởng của một số nguồn dinh dƣỡng hữu cơ đến khả năng sinh trƣởng của nấm sò PN31‖ là rất cần thiết cho thực tế sản xuất nấm sò. Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu nghiên cứu Khảo sát, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của chủng nấm sò PN31 trên các môi trường khác nhau để từ đó chọn ra được môi trường thích hợp cho sinh trưởng của hệ sợi và sự hình thành, phát triển của chủng nấm sò. Yêu cầu của đề tài Đánh giá ảnh hưởng của các loại dịch chiết tự nhiên tới sự sinh trưởng của hệ sợi nấm sò PN31 Đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng dịch chiết từ giá đến sinh trưởng của hệ sợi nấm sò PN31 trong giai đoạn nhân giống cấp 1 Đánh giá sinh trưởng phát triển của chủng nấm sò PN31 trên một số môi trường nhân giống cấp 2 Đánh giá ảnh hưởng của nguyên liệu nuôi trồng đến sinh trưởng của chủng nấm sò PN31 trong giai đoạn nuôi trồng 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm trên Thế giới và Việt Nam 2. Tình hình nghiêm cứu, sản xuất nấm trên Thế giới Ngày nay, đã phát hiện hơn 3.000 loài nấm khác nhau, trong đó có khoảng 230 loài có thể ăn được và nuôi trồng thành công như nấm mỡ, nấm bào ngư, nấm rơm, nấm mộc nhĩ, nấm kim châm, nấm đùi gà…, và 700 loài được sử dụng trong lĩnh vực dược liệu như nấm linh chi, nấm phục linh, nấm vân chi, nấm đầu khỉ…(Marshall and Nair 2009; Reis et al.
2012; Chang and Wasser 2017) Việc đáp ứng nhu cầu thị trường càng ngày càng tăng, việc xuất khẩu nấm trên thế giới cũng càng ngày càng phát triển. Theo FAO, Trung quốc sản xuất khoảng 7,8 triệu tấn các loại nấm trong năm 2017. Trong 35 năm qua sản lượng nấm tăng lên gấp 10 lần (Khoảng 1,5 triệu tấn vào năm 1980 và khoảng 11 triệu tấn trong năm 2017). Tại các nước châu Âu, hàng năm họ sản xuất được khoảng 1,3 triệu tấn nấm các loại.
Khoảng 70% trong số đó được bán tươi, và 30% được đóng hộp hoặc dự trữ trong kho đông lạnh). Ngoài sự tăng trưởng chung của Châu Âu, Ba Lan cũng nổi bật về sự tăng trưởng mạnh trong sản xuất nấm tươi, với số lượng khoảng 260 nghìn tấn/ năm, cao xấp xỉ so với Hà Lan (Khoảng 300 nghìn tấn nấm). Mỹ là một trong những quốc gia sản xuất nấm lớn nhất ở Bắc Mỹ với số sản lượng nấm hàng năm lên đến 420 nghìn tấn, trong đó hầu hết là nấm bán tươi trong nước. Tiếp theo là nhà xuất khẩu đứng thứ 2 Bắc Mỹ, Canada.
Với tổng sản lượng 100 nghìn tấn mỗi năm. Úc cũng là một trong những ngành công nghiệp nấm, nổi lên khá bất ngờ khi được lọt vào top 10 các quốc gia có sản lượng nấm nhiều nhất, với chỉ số 75 nghìn tấn mỗi năm. (Devochkina N et al. 2019) Việc sản xuất nấm ở các quốc gia kể trên đang khá đều chưa có nhiều chuyển biến trong những năm gần đây, cụ thể là vị trí xếp hạng.
Tại Châu Âu, số lượng nấm tiêu thụ đang có xu hướng giảm trong những năm tiếp theo, trung 3 bình là 2.0kg/người/năm. Tại Trung Quốc, sự định hướng lại cơ cấu sản xuất nấm trồng đang thay đổi nhanh chóng. Phần lớn các trang thiết bị công nghệ đang dần được thay thế cho các trang thiết bị thô sơ ở trang trại. Tại các khu nuôi trồng giống, sự tăng trưởng sản xuất vẫn không thay đổi, nhưng trong tương lai, sự suy giảm của nó có thể xảy ra.
Ở Trung Quốc, lượng tiêu thụ nấm mỗi loại rất nhỏ, chỉ khoảng 0.2kg/người/năm, nhưng xét tổng thể các loài nấm thì nó cao hơn tất cả quốc gia khác: 14kg/người/năm. Đối với các quốc gia Bắc Mỹ, việc sản xuất nấm diễn ra rất ổn định, không dễ bị thay đổi bởi thị trường ngoài nước. Chỉ số tiêu thụ ở nước Mỹ là 1,5kg/người/năm, còn Canada là 3kg/người/năm (Devochkina N et al. Tình hình nghiêm cứu, sản xuất nấm ở Việt Nam Nước ta sản xuất khoảng 16 loại nấm, các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm, nấm mộc nhĩ; các tỉnh phía Bắc chủ yếu trồng nấm hương, nấm sò, nấm linh chi.
Sản lƣợng nấm hàng năm nước ta khoảng 250.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu 25 - 30 triệu USD (không tính xuất khẩu tiểu ngạch), trong đó: nấm mộc nhĩ 120.000 tấn, nấm mỡ 5.000 tấn, nấm linh chi 300 tấn, các loại nấm khác như nấm vân chi, nấm đầu khỉ, nấm kim châm, nấm ngọc châm khoảng 700 tấn (Nguyễn Như Hiến & Phạm Văn Dư, 2013) Các vùng sản xuất nấm: + Nấm rơm được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Nai.) chiếm 90% sản lượng cả nước. + Nấm mộc nhĩ được trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam bộ (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước.), chiếm khoảng 70% sản lượng cả nước. + Nấm mỡ, nấm sò, nấm hương được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, sản lượng khoảng 3. 4 + Nấm làm dược liệu (linh chi, vân chi, đầu khỉ.) mới được phát triển, trồng ở một số tỉnh/thành phố (Hà Nội, TP.
Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Đồng Nai,.), sản lượng khoảng 300 tấn/năm. + Một số loại nấm khác như nấm trân châu, nấm kim châm, nấm đùi gà, nấm chân dài, nấm ngọc châm. đang nghiên cứu và trồng thử nghiệm thành công tại một số cơ sở, sản lượng khoảng 100 tấn/ năm. Tình hình tiêu thụ trong nƣớc: Nhu cầu tiêu thụ nấm (nấm tươi, nấm khô) trong nước tăng nhanh trong những năm gần đây, giá nấm luôn đứng ở mức cao, nấm hương 70.000 đồng/kg, nấm rơm, nấm mỡ 50.000 đồng/ kg, nấm tai mèo 60.
Tình hình xuất khẩu: Nấm xuất khẩu dưới nhiều dạng như nấm muối, nấm hộp, nấm khô của các loại nấm mộc nhĩ, nấm hương, nấm rơm; kim ngạch xuất khẩu năm 2009 là 60 triệu USD, tăng lên 90 triệu USD (năm 2011). Giá nấm rơm muối xuất khẩu tháng 1/ 2009 là 1.299 USD/ tấn, tăng lên 1.790 USD/ tấn (tháng 11/ 2009), hiện nay khoảng 2.000 USD/tấn; nhiều công ty xuất khẩu nấm có uy tín ở các tỉnh phía Nam là West Food Cần Thơ, Vegetexco Hồ Chí Minh, Vegehagi, NutriWorld Đồng Nai (Minh Huệ, 2012). Giới thiệu chung về nấm sò 2. Nguồn gốc, vị trí, phân loại, phân bố 2.
Nguồn gốc Nấm sò (Còn gọi là nấm bào ngư) là một loại nấm ăn được trồng đầu tiên tại Đức vào năm 1917. Dùng để nghiên cứu thay thế lượng thức ăn khẩn cấp trong thế chiến thứ nhất, sau này được mở rộng ra trồng trên khắp thế giới. Vị trí phân loại Theo Nguyễn Lân Dũng (2010), nấm sò Pleurotus Ostreatus có vị trí phân loại như sau: Giới: Fungi. 5 Lớp: Agaricomycetes Bộ: Agaricales.
Chi: Pleurotacecae Loài: Pleurotus ostreatus 2. Phân bố Nấm mọc tự nhiên trong các khu rừng ôn đới và nhiệt đới trên các khúc gỗ chết và mục nát hoặc đôi khi trên thân cây đã rụng lá hoặc những cây lá kim đã chết. Nó cũng có thể phát triển trên các chất hữu cơ phân rã. Quả thể của loại nấm này trơn có nhiều cánh hoặc ít cánh với các loại sắc thái khác nhau như màu trắng, xám, vàng, hồng hoặc nâu nhạt tùy thuộc vào loài.
Chu kỳ sống của nấm sò Nấm sò là loài nấm dị tản hai yếu tố. Trên đảm hình thành 4 đảm bào tử thuộc 4 dãy khác nhau. Khi gặp điều kiện thuận lợi các bào tử đảm nảy mầm cho ta hệ sợi đơn bội, có vách ngăn không có khóa. Các sợi đơn bội này nếu mọc riêng rẽ nhìn chung bất thụ và không hình thành bào tử hữu tính.
Khi hai sợi nấm đơn bội khác tính tiếp xúc với nhau chúng hòa tan màng, đổ nội chất tạo nên sợi song hạch (2 nhân) có vách ngăn với khóa điển hình. Khi gặp điều kiện thuận lợi sợi song hạch liên kết lại tạo nên mầm mống quả thể dạng những mấu lồi nhỏ, màu trắng.