Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận Khái niệm Văn hóa: Văn hóa gắn với các mối quan hệ ứng trong xã hội như: Văn hóa giao thông, Văn hóa giao tiếp, Văn hóa công sở, trình độ văn hóa, hay văn hóa còn được gán với cộng đồng như: Văn hóa làng xã, Văn hóa thành thị, văn hóa nông thôn… hay “văn” đơn giản chỉ là cái hay cái đẹp và “hóa” là biến hóa, làm thay đổi, suy rộng ra văn hóa có phải là biến cái xấu thành cái hay cái đẹp thì được gọi là văn hóa? có thể nói chưa có định nghĩa nào đa dạng và phong phú như định nghĩa về văn hóa. Vậy Văn hóa thực chất là gì ? Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ học người Đức W.Wundt thì văn hóa có nguồn gốc từ chữ Latinh “colere” sau này chuyển thành “cultura”, có nghĩa là cày cấy, chăm sốc vun trồng, vậy văn hóa có nguồn gốc bắt nguồn từ nông nghiệp là chăm sóc vun trồng cho cây trồng nhưng cây trồng ờ đây là cây trồng của tâm hồn tức nói về chăm sóc nuôi trồng tinh thần cho con người để tạo nên các giá trị Văn hóa. Trong công trình Primitive Culture (1871) của nhà dân tộc học người Anh E.B Tylor, lần đầu tiên đưa ra khái niệm văn hóa ở dạng mô tả liệt kê các thành tố văn hóa “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”.
Dẫn theo, Trần Quốc Vượng trong Cơ sở văn hóa Việt Nam [44, tr. Từ năm 1871 đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa văn hóa khác 16 nhau của các nhà khoa học ra đời. Như vậy, có thể nói khái niệm về văn hóa là khái niệm mới so với các khái niệm của các ngành khoa học khác. Trong thập kỷ 50 của thế kỷ XX, A.Kluckhon trong công trình nghiên cứu của mình đã liệt kê có hơn 150 định nghĩa về văn hóa.
Cho tới nay, các định nghĩa và khái niệm về văn hóa không ngừng tăng lên. Theo nghiên cứu của Giáo sư Phan Ngọc trong cuốn “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới” ông đã thống kê có hơn 400 định nghĩa về văn hóa và con số ấy đang không ngừng được tăng lên. Trần Quốc Vượng đã nói rằng: Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người [45, tr. Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa, đa tầng, do vậy mỗi người từ những góc độ chuyên môn khác nhau hay vì những mục đích khác nhau sẽ có những cách tiếp cận và những quan niệm hay định nghĩa khác nhau về văn hóa nên việc mà ta thấy những định nghĩa văn hóa khác nhau là chuyện bình thường và chấp nhận được.
Việc đồng nhất văn hóa với các định nghĩa về văn hóa thể hiện rõ góc độ tiếp cận của người nghiên cứu, như người ta tiếp cận văn hóa từ góc độ thích ứng môi trường, coi văn hóa là sự rèn luyện, giáo dục, coi văn hóa là chuẩn mực ứng xử xã hội, hay coi văn hóa là nhân cách, là tâm lý là quan hệ,… Có loại định nghĩa về văn hóa theo quan niệm giá trị và phi giá trị. Ngoài ra, còn có định nghĩa khẳng định văn hóa là các giá trị do con người sáng tạo ra và mang lại cho con người những gì tốt đẹp, cao cả, nâng cao phẩm giá con người thì lại định nghĩa từ Theo Đào Duy Anh: “Văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt” [06, tr. 17 Có thể nói định nghĩa về văn hóa rất đa dạng và phong phú. Hầu như mỗi nhà nghiên cứu văn hóa đều có thể đưa ra những định nghĩa về văn hóa riêng cho mình và tùy vào mục đích và hướng nghiên cứu và các nhà nghiên cứu chọn cho mình những định nghĩa riêng.
Trong luận văn này, tôi lựa chọn cách định nghĩa “giá trị” đối với văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [36, tr. Bởi lẽ, với định nghĩa này chứa đựng đầy đủ hai yếu tố “Vật chất” “ tinh thần” và định nghĩa này khẳng định rõ văn hóa là những sáng tạo của con người mang lại giá trị cho con người và chỉ có con người mới có văn hóa. Văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần nó được rút ra từ trong đời sống thực tiễn của con người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội mà họ đang sống. Điều đó có nghĩa không phải tất cả những cái gì con người sáng tạo ra điều là văn hóa, mà chỉ có những cái kết tinh thành giá trị thì cái đó mới là cốt lõi của văn hóa.
Khái niệm di sản văn hóa Khái niệm Di sản văn hóa là khái niệm được sử dụng phổ biến trong xã hội. Ngay từ sau cách mạng Pháp thì khái niệm di sản được hình thành với ý nghĩa là tài sản của các tầng lớp quý tộc được thu thành tài sản quốc gia và coi đó là di sản. Con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, do vậy con người cũng có hai loại hoạt động cơ bản đó là hoạt động sản xuất ra vật chất và hoạt động tạo ra các giá tinh thần. Di sản văn hóa cũng vậy nó như một hệ thống thường được hiểu ở hai dạng: Văn hóa vật thể mang yếu tố về vật chất và phi vật thể mang yếu tố về tinh thần.
Khái niệm di sản được khẳng định trong Điều 1 Luật Di sản Văn hóa số 28/2001/QH10, ngày 29/6/2001 của Quốc Hội nước Cộng Hòa 18 Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam “Di sản văn hóa gồm Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Như vậy di sản văn hóa được khái quát lại là tổng thể những tài sản văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết và đưa vào sử dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại. Di sản văn hóa vật thể là những sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền lâu đời trong đời sống của các dân tộc, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, các công trình xây dựng kiến trúc, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia Văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. (dẫn theo Điều 1 Luật Di sản Văn hóa số 28/2001/QH10, ngày 29/6/2001 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) 19 Tín ngưỡng Thờ Thiên Hậu cũng đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào năm 2009.
Khái niệm lễ hội Lễ hội là một thức sinh hoạt văn hóa đặc biệt có tính tập thể phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt của người dân trong lao động sản xuất hay trong việc hình dung lại các sự kiện lịch sử. Lễ hội giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và đời sống xã hội, nó chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống như: Kinh tế - xã hội, văn hóa, tâm lý và tôn giáo tín ngưỡng của tộc người. Ở mỗi vùng miền khác nhau sẽ có những lễ hội mang nét độc đáo riêng mang đậm dấu ấn của vùng miền đó. Trong Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (1988), NXB Khoa học xã hội thì lễ hội được định nghĩa như sau “Lễ là hệ thống các hành vi, tác động nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện.
Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc của từng gia đình, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng là ước mơ bao đời của con người’’ Như vậy, lễ hội có thể chia làm 02 loại cơ bản là lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại, lễ hội bản địa và các lễ hội du nhập…. xong tất cả các lễ hội đều có hai phần chính là một phần lễ và, một phần hội. Tùy vào tính chất của lễ hội mà người ta có thể chia ra phần lễ và phần hội như thế nào cho hợp lý trong lễ hội. Khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo Khái niệm tín ngưỡng: Khái niệm tín ngưỡng là khái niệm được sử dụng khá phổ biến và rộng rãi trong nghiên cứu tôn giáo.Trong pháp lệnh 20 tín ngưỡng, tôn giáo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số 21/2014 PL – UBTVQH ngày 18/06/2004 điều 03 khoản 1 có quy định như sau: Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.