CHƯƠNG I - CHẾ ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA CỦA WTO - NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG CÓ TÍNH NGUYÊN TẮC TRONG CHẾ ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA CỦA WTO Khi hiệp định chung vé thué quan va thuong mai (General Agreement on Tariff and Trade - GATT) ra doi nam 1947 cho đến nay, thương mại thế giới không những tăng lên rất nhiều về quy mô và mức độ tự do hóa, mà còn được dựa trên những quy định và nguyên tắc ngày càng chặt chẽ. Vòng đàm phán Urugoay với kết quả là Hiệp định về thành lập Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO) đã củng cố thêm các nguyên tắc thương mại đa biên. Có thể nói, thương mại hàng hóa là lĩnh vực chủ yếu được GATT điều chỉnh trước đây và cho đến hiện nay đây vẫn là một bộ phận quan trọng nhất trong các lĩnh vực điều tiết của WTO.
Những quy định chung của WTO đối với thương mại hàng hóa không chỉ được các thành viên của tổ chức này áp dụng với nhau mà chúng còn là những tiêu chuẩn cơ bản cho thương mại hàng hóa toàn thế giới. Đó là những quy định cơ bản sau: 1. Chế độ Tối huệ quốc - MEN (Most Favoured Nation) Chế độ Tối huệ quốc - MEN được xem là viên đá tầng trong Hiệp định chung của WTO. Điều 1 Hiệp định này quy định nội dung cụ thể của chế độ tối huệ quốc, đó là "Những lợi ích, ưu đãi, đặc quyên hoặc miễn giảm mà các nước thành viên này áp dụng cho những sẵn phẩm nhập khẩu của nước khác hoặc xuất khẩu sang nước khác phải được áp dụng vô điều kiện, không chậm trễ đối với những sẵn phẩm cùng loại nhập? khẩu từ các nước thành viên khác hay xuất khẩu sang các nước thành viên khác".
Nói một cách đơn giản, nguyên tắc này chỉ ra rằng, nếu một nước thành viên này cho một nước (hành viên kia hưởng ưu đãi. thuế quan hay những lợi ích nào đó thì nó phải đồng thời áp dụng ngay va vo điều kiện tu đãi này cho sản phẩm cùng loại của các nước thành viên khác. Nghĩa vụ đãi ngộ theo chế độ MEN như vậy áp dụng không chỉ đối với hàng nhập khẩu mà còn cả với hàng xuất khẩu. Trong thực tiễn, chế độ Tối huệ quốc được các nước trên thế giới áp dụng rất khác nhau tùy theo mục đích kinh tế hoặc chính trị của mình: Chế độ Tối huệ quốc có thể được áp dụng có điều kiện hoặc vô điều kiện, có thể là chế độ Tối huệ quốc đa phương hoặc chế độ Tối huệ quốc đơn phương, và cũng có thể là chế độ Tối huệ quốc không hạn chế và có hạn chế.
Tuy nhiên, chế độ Tối huệ quốc được quy định trong Định chế thương mại hàng hóa của WTO Tà chế độ Tối huệ quốc đa phương và vô điều kiện. Có nghĩa 5 là, các bên ký hiệp định sẽ thực hiện MEN ngang nhau, trên cơ sở có đi có lại, không nước nào được đành lợi thế thương mại đặc biệt cũng như không được đối xử phân biệt với một nước nào đó. Mặt khác, chế độ Tối huệ quốc của WTO không được áp dụng bao trùm tất cả các mặt trong quan hệ kinh tế thương mại mà phạm vi ấp dung của nó chỉ giới hạn ở các lĩnh vực như: ® Thuế quan ® Các khoản phí có liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu * Phuong pháp đánh thuế và các khoản phí liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu s Các quy tắc và thủ tục liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu. © Các loại thuế và phí trong nước đánh vào hàng nhập khẩu và luật, quy định, những yêu cầu có ảnh hưởng tới việc bán hàng nhập khẩu ® Việc quản lý các bạn chế định lượng (như phân bổ hạn ngạch cho các nước cung cấp trên cơ sở không phân biệt đối xử) khi các hạn chế này được cho phép áp dụng theo các điều khoản ngoại lệ (Điều XHI GATT 1994) Như vậy, chế độ Tối huệ quốc được quy định trong WTO là chế độ Tối huệ quốc đa phương, vô điêu kiện và có hạn chế.
Ngoài ra, WTO cũng quy định những ngoại lệ của chế độ Tối huệ quốc, đó là các trường hợp sau: - Mậu dịch biên giới: Một số nước có biên giới chung thường cho phép cư dân vùng biên giới tiến hành mậu dịch tiểu ngạch ở khu vực biên giới, do đó thuế và thủ tục hải quan thường được miễn giảm. Theo quy định của WTO, những quyển lợi và ưu đãi mà bất kỳ một nước thành viên nào đành cho mau dich biên giới đều không được áp dụng cho chế độ Tối huệ quốc. - Các thoả thuận tu đối khu vực là một ngoại lẹ quan trọng của chế độ đãi ngộ MEN, theo đó các thành viên của thoả thuận khu vực giành cho nhau hưởng mức thuế thấp hơn hoặc miễn thuế cho nhau mà không cần phải giành những ưu đãi này cho những nước khhác không phải là thành viên của thoả thuận đó. Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích thương mại của các nước không tham gia thoả thuận khu vực, Hiệp định GATT 1994 (Điều XXIV: 8) đã đề ra những điều kiện nghiêm ngặt liên quan tới việc thành lập các thoả thuận này, đó là: + Các nước thành viên của thoả thuận ưu đãi khu vực phải loại bỏ về cơ bản thuế quan và các hàng rào cản trở thương mại khác có ảnh hưởng tới hầu như toàn bộ hoạt động thương mại giữa họ, và + Thoả thuận ưu đãi khu vực đó không được tạo ra những hàng rào cần trở thương mại đối với các nước không phải là thành viên của thoả thuận Thoả thuận ưu đãi khu vực có thể tồn tại dưới dạng liên minh thuế quan và khu vực mậu địch tự do.
Trong cả hai hình thức thoả thuận ưu đãi khu vực này, thương mại giữa các nước thành viên của thoả thuận được tiến hành trên cơ sở miễn thuế trong khi thương mại với các nước ngoài thoả thuận vẫn tiếp tục được tiến hành trên cơ sở thuế suất MEN. Trong trường hợp thoả thuận ưu đãi khu vực dưới hình thức liên minh thuế quan thì thuế quan giữa các nước thành viên được hài hoà hoá và áp dụng thống nhất đối với hàng nhập khẩu từ các nước ngoài liên mình. Đối với trường hợp khu vực mậu dịch tự do, các nước thành viên tiếp tục áp dụng thuế quan theo biểu thuế riêng của từng nước trong quan hệ thương mại với các nước ngoài khu vực mà không tiến hành hài hoà hoá thuế quan. Hiện nay có khoảng hơn I00 thoả thuận ưu đãi khu vực đang có hiệu lực.
Có thể kể tên một số thoả thuận ưu đãi như: -Khối thị trường chung Đông và Nam phi (COMESA) gồm 20 thành viên -Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) gồm 3 thành viên Ị “Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) gồm Argentina, Brazil, Paraguay, Uruguay (Bolivia vA Chile I các thành viên du bi) -Khéi ANDEAN gém Bolivia, Colombia, Ecuador, Peru, Venezuela .Liên Minh châu Âu .ASEAN - Các thoả thuận thương mại tự do một chiều là những thoả thuận trong đó các nước phát triển cho phép hàng nhập khẩu từ tất cả hoặc từ một số nước đang phát triển thâm nhập thị trường nước mình trên cơ sở miễn thuế. Các thoả thuận này không mang tính chất có đi có lại vì các nước đang phát triển được hướng lợi nhờ những ưu đãi này lạt không phải giành ưu đãi cho hàng của các nhập khẩu từ các nước phát triển. Các ví dụ về những thoả thuận ưu đãi một chiều như vậy được nêu tại Hiệp định GATT 1994, Quyết định của Vòng Tokyo về Đối xử khác biệt và Ưu đãi hơn. Sự có đi có lại và sự tham gia nhiều hơn của các nước phái triển gồm có: +Hệ thống ưu đãi phổ cập chung (GSP) theo đó các nước phát triển cho phép tất cả các sản phẩm công nghiệp và một số nhất định các nông sản từ tất cả các nước đang phát triển được nhập khẩu vào các nước này trên cơ sở ưu đãi và miễn thuế.
Hệ thống GSP là dạng mở rộng và thay thế cho ngoại lệ liên quan tới những ưu đãi về thuế đang có hiệu lực vào thời điểm Hiệp định GATT được ký kết ( Điều I: 2 của GATT). Kể từ Vòng Tokyo, các ưu đãi GSP được duy trì theo cơ chế của Điều khoản cho phép (Enabling clause- chính là quy định về đối xử 7 ` khác biệt và ưu đãi hơn, sự có đi có lại và sự tham gia nhiêu hơn của các nước đang phát triển) được các bên ký kết thông qua khi Vòng Tokyo kết thúc. +Công ước Lome theo đó các nước thành viên của EU cho phép hàng hoá từ một số nước đang phát triển và kém phát triển ở Châu phi, Caribe, Châu á và Thái Bình Dương ( tức là các nước ACP) được nhập khẩu miễn thuế +Sáng kiến vịnh Caribe, theo đó Mỹ cho phép hàng hoá từ các nước vùng Caribe được nhập khẩu miễn thuế Công ước Lome, thoả thuận vùng vịnh Caribe không có cơ sở pháp lý rõ rằng cụ thể trong các điều khoản quy định của GATT 1994 mà hiện nay được phép duy trì theo quyển miễn trừ — waiver- là quyển cho phép các nước cho hưởng những ưu đãi không phải thực hiện nghĩa vụ đãi ngộ MEN của mình. Trong hai thoả thận ưu đãi này, các nước phát triển dành đãi ngộ ưu đãi cho một số hạn chế các nước đang phát triển mà giữa chúng có mối liên hệ về lịch sử hoặc mối liên hệ khác.
Tuy nhiên hiện nay đang xuất hiện những áp lực đòi hỏi các nước phát triển cho hưởng những ưu đãi phải sửa đổi lại các thoả thuận ưu đãi hạn chế này cho phù hợp với các quy tắc của GATT, vì xết từ quan điểm pháp lý, các thoả thuận này dẫn tới sự đãi ngộ phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu từ nước đang phát triển không được hưởng những ưu đãi. Công ước Lome hiện hành (Lome IV) đã hết hiệu lực vào tháng 2/2000, còn quyền miễn trừ đành cho Mỹ để thực hiện Sáng kiến vùng vịnh Caribe sẽ hết hiệu lực vào cuối năm 2005. - Ngoài ra cũng còn có một số ngoại lệ khác Ít quan trọng hơn. Chẳng hạn như Điều VI của GATT 1994 cho phép đánh thuế đối kháng và thuế chống bán phá giá lên hàng nhập khẩu được trợ cấp hoặc hàng nhập khẩu được bán ra với giá thấp hơn giá trong nước gây tốn hại cho các ngành công nghiệp nội địa của nước nhập khẩu.
Hay điều XIV cho phép phân biệt đối xử khi áp dụng biện pháp hạn ngạch vì lý do bảo vệ cần cân thanh toán.