CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về quản lý hệ thống cấp nước trên thế giới và ở Việt Nam.1 Các khái niệm cơ bản Đánh giá rủi ro trong kế hoạch cấp nước an toàn là việc đánh giá mức độ nguy hiểm của các nguy cơ, từ đó đưa ra biện pháp xử lý cần thiết đảm bảo cấp nước an toàn. Việc đánh giá rủi ro các mối nguy hại nhằm xác định mức độ nguy hiểm của các nguy cơ tác động lên hệ thống cấp nước. Từ đó xác định thứ tự ưu tiên của các mối nguy hại theo mức độ rủi ro và xây dựng, lập kế hoạch thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp xử lý các mối nguy hại theo thứ tự ưu tiên, nhằm giảm thiểu rủi ro cho hệ thống cấp nước Các mối nguy hại được xác định dựa vào tài liệu ghi chép thực tế các sự cố của hệ thống cấp nước do đơn vị quản lý vận hành ghi lại và dự đoán các mối nguy hại có thể xảy ra trên cơ sở khoa học biện chứng. Trong đề tài này, các mối nguy hại được đưa ra dựa trên tổng hợp tất cả các sự cố liên quan đến trạm cấp nước và kinh nghiệm vận hành tại các trạm cấp nước nông thôn trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong quá khứ và kết quả mô phỏng chất lượng nước bằng mô hình ở những kịch bản ô nhiễm khác nhau.
Các mối nguy hại dự kiến được phân nhóm như sau: P (physical) Vật lý; M (microbiology) Vi sinh; C (chemical) Hóa học; O (others) khác. - Nguy hại vi sinh (M): Là vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng trong nước có thể gây hại cho người dân. Vi sinh vật có mặt ở khắp mọi nơi xung quanh chúng ta: trong đất, trong nước, trong không khí; trên các loại động thực vật trong môi trường xung quanh, trên các bề mặt của dụng cụ; và cả trên tóc, trên da tay, trong hốc mắt, hốc mũi, kẽ móng tay, móng chân, trên các vết mưng mủ, xây xát trên da tay của chính chúng ta. Nguy hại hóa học (C): Mối nguy hóa học có sẵn trong nước (do đặc tính địa chất, thổ nhưỡng…của khu vực khai thác nước).
Mối nguy hóa học do con người vô tình đưa vào có thể bắt nguồn từ các hoạt động nông nghiệp như: sử dụng thuôc bảo vệ thực vật 5 không đúng cách hoặc dùng thuốc ngoài danh mục sẽ gây nên vấn đề dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ngấm vào nguồn nước. Mối nguy hóa học phát sinh trong quá trình bơm, xử lý nước tại trạm xử lý, đặc biệt là việc sử dụng Clo để khử trùng nước, nếu hàm lượng ở mức cho phép thì các chất này đóng vai trò là có ích nhưng nếu hàm lượng quá cao thì sẽ là mối nguy đối với sức khỏe của người dân. Nếu có hàm lượng clo vượt quá tiêu chuẩn 0.5 mg/lít, uống vào có thể bị ngộ độc, tiếp xúc lâu dài sẽ gây tổn thương đường hô hấp, giác mạc… Mối nguy hại lý học (P): Ảnh hưởng tới sức khỏe của người sử dụng, làm cho nước mất an toàn, làm giảm hiệu quả của việc xử lý đặc biệt làm giảm hiệu quả khử trùng hoặc làm cho người sử dụng thấy nước đục, không chịu sử dụng mà tìm tới những nguồn nước khác trông có vẻ trong, nhưng thật sự những nguồn nước đó đã bị nhiễm bẩn. Mối nguy vật lý phổ biến là cặn lắng trong hệ thống cấp nước.
Cặn lắng và tạp chất rắn lơ lửng bao gồm cả vật liệu làm đường ống, các mảnh sơn lót đường ống, bùn lắng hoặc màng nhầy sinh học, màng sắt hay màng mangan. Tạp chất rắn lơ lửng có thể chứa các chất độc hoặc vi sinh vật gây bệnh và có thể trở thành vật mang trung gian cho các mối nguy xâm nhập vào nước. Nguy hại khác (O): Các tác nhân gây ngừng quá trình xử lý nước hoặc cấp nước hoặc dừng hoạt động của thiết bị. Các thông số chất lượng nước thô giới hạn để kiểm soát Cấp nước an toàn cung cấp cho các hệ thống xử lý nước phải tuân thủ các Quy chuẩn Kỹ thuật chuyên ngành do Nhà nước ban hành.
Đối với nước thô khai thác từ nguồn nước mặt: Tuân thủ chặt chẽ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2015/BTNMT. Kế hoạch Cấp nước An toàn (KHCNAT) là một chương trình do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khởi xướng với mục tiêu nhằm quản lý rủi ro, ngăn ngừa các nguy cơ từ nước sạch đảm bảo mục tiêu sức khỏe cho cộng đồng. Tại Việt Nam, từ năm 2007, WHO kết hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Y tế, Hội Cấp Thoát nước Việt Nam đề xuất và hỗ trợ tổ chức, thực thi KHCNAT cho các công ty cấp 6 nước. Đến năm 2008, Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-BXD về Quy chế đảm bảo an toàn cấp nước.
Đây là cơ sở pháp lý để điều chỉnh và hướng dẫn các đơn vị cấp nước và các bên liên quan triển khai thực hiện, giám sát thực hiện cấp nước an toàn. Ngày 21 tháng 11 năm 2012, Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 08/2012/TT-BXD hướng dẫn thực hiện đảm bảo cấp nước an toàn. Theo Điều 2 – Thông tư 08/2012/TT- BXD, khái niệm cấp nước an toàn được hiểu như sau: Cấp nước an toàn là việc cung cấp nước ổn định, duy trì đủ áp lực, liên tục, đủ lượng nước, đảm bảo chất lượng nước theo quy chuẩn quy định. Bảo đảm cấp nước an toàn là những hoạt động nhằm giảm thiểu, loại bỏ, phòng ngừa các nguy cơ, rủi ro gây mất an toàn cấp nước từ nguồn nước qua các công đoạn thu nước, xử lý, dự trữ và phân phối đến khách hàng sử dụng nước.
Kế hoạch cấp nước an toàn là các nội dung cụ thể để triển khai thực hiện việc bảo đảm cấp nước an toàn. Mối nguy hại: Là những nguy cơ trực tiếp hoặc gián tiếp, hiện hữu hoặc tiềm ẩn, đe dọa đến an toàn của hệ thống cấp nước và hoạt động cấp nước. Các mối nguy hại có thể xuất hiện tại bất kỳ công đoạn nào trong quá trình khai thác, sản xuất và cung cấp nước từ nguồn nước đến công trình xử lý và hệ thống truyền tải - phân phối nước. Đánh giá rủi ro: Là việc đánh giá mức độ nguy hiểm của các nguy cơ dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá (theo mức độ tác động và tần suất xảy ra rủi ro), từ đó đưa ra biện pháp xử lý cần thiết đảm bảo cấp nước an toàn.
Sự cố: Là những hư hỏng hoặc hoạt động không bình thường của các thiết bị, công trình, thành phần thuộc hệ thống cấp nước, xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người, có thể dẫn đến làm ngừng một phần hoặc toàn bộ hoạt động của hệ thống cấp nước. 7 Thành lập Ban Nhóm cấp nước an toàn Phản hồi Đánh giá hệ thống - Mô tả hệ thống - Nhận dạng mối nguy và đánh Rà soát Kế hoạch giá rủi ro Nâng cấp định kỳ sự và định kỳ - Xác định và kiểm chứng các đầu tư cố, xem xét rà soát biện pháp kiểm soát, đánh giá KHCNAT KHCNAT lại và xếp ưu tiên các rủi ro - Phát triển, áp dụng và duy trì Kế hoạch cải thiện/ nâng cấp Giám sát vận hành - Giám sát Theo dõi quá trình quá trình kiểm soát - Kiểm tra, xác nhận (thẩm định) hiệu quả thực hiện KHCNAT Quản lý và truyền thông Giải quyết - Soạn thảo quy trình quản lý khẩn cấp - Xây dựng các chương trình hỗ trợ Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống của kế hoạch cấp nước an toàn Biện pháp kiểm soát (BPKS): Là cách thức, phương thức tiến hành nhằm phòng ngừa, ngăn chặn mối nguy, các sự cố và xử lý giải quyết chúng trong quá trình sản xuất và cung cấp nước. Kế hoạch cải thiện nâng cấp: Là kế hoạch để thực hiện các hành động để cải tiến, nâng cấp (đối với quy trình công nghệ, công trình, máy móc thiết bị, con người, phương thức quản lý…) nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế, khắc phục, sửa đổi những khuyết điểm; đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng của nhân viên… 8 Kiểm chứng: Là việc cung cấp bằng chứng về tất cả các hoạt động của hệ thống cấp nước, chứng thực cho hiệu quả thực hiện KHCNAT, các phản hồi của khách hàng,. Quy trình vận hành trong điều kiện bình thường: Là các bước vận hành hệ thống cấp nước theo trình tự trong điều kiện tất cả các thiết bị, tất cả các khâu đều hoạt động bình thường, đúng chức năng, nhiệm vụ.
Đây là công việc thực hiện thường xuyên, có tính lặp đi lặp lại trong thời gian dài. Quy trình xử lý sự cố: Là quy trình xử lý áp dụng khi xảy ra một sự cố nào đó trong hệ thống cấp nước (từ nguồn nước, hệ thống xử lý nước, mạng lưới cấp nước cho đến đồng hồ khách hàng), trong đó chỉ rõ cách thức xác định sự cố, giải quyết, ứng phó trong trường hợp xảy ra sự cố; cách khắc phục để đưa hệ thống trở lại vận hành bình thường. Quy trình quản lý: Là quy trình cần thực hiện để đảm bảo hoạt động của tất cả các khâu trong dây chuyền được vận hành đồng bộ, thông suốt, khoa học, đảm bảo cân đối mọi nguồn lực cho sản xuất kinh doanh ổn định và phát triển. Chương trình hỗ trợ: Là các chương trình nhằm nâng cao năng lực quản lý, vận hành hệ thống cấp nước, nâng cao nhận thức về KHCNAT, nhận thức của cộng đồng về nước sạch và môi trường.
Rà soát kế hoạch: Là quá trình theo dõi, kiểm tra việc thực hiện KHCNAT trong toàn bộ các bước nhằm tìm ra những điểm thiếu sót hoặc sai lầm để tiến hành điều chỉnh, bổ sung đảm bảo cho KHCNAT được thực hiện đúng theo mục tiêu ban đầu. Cập nhật định kỳ Kế hoạch Cấp nước an toàn: Là hành động điều chỉnh, bổ sung kế hoạch cũng như phương pháp triển khai thực hiện KHCNAT nhằm thay đổi phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống cấp nước đồng thời khắc phục những khuyết điểm, phát huy những ưu điểm đã được xác nhận trong quá trình rà soát, đánh giá.2 Quản lý và áp dụng kế hoạch cấp nước an toàn trên Thế giới. Quản lý chất lượng nước trên thế giới liên quan đến các đạo luật, pháp quy và các chương trình ứng dụng, tiện ích. Ở Mỹ đạo luật Safe Drinking Water Act Amendments, 1996 (luật sửa đổi về nước ăn uống an toàn) có những điều khoản về 9 bảo vệ nguồn nước và ủng hộ các nhà quản lý chất lượng nguồn nước.