chương 1: Kế hoạch bảo dưỡng thiết bị cho dây chuyền sản xuất phân bón NPK của Nhà máy là rất cần thiết nhằm giảm chi phí sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm, tăng thời gian chạy máy, giảm tiêu hao năng lượng. Phạm vi thực hiện đề tài này là hệ tạo hạt 1 của Nhà máy nhằm để đánh giá các công tác bảo dưỡng trong nhà máy, qua đó thu thập được số liệu cho các thiết bị trong dây chuyền và lập ra kế hoạch bảo dưỡng. Quy trình thực hiện đề tài này qua các bước thực hiện từ việc xác định mục tiêu, thu thập thông tin, đánh giá bảo dưỡng, tính chi phí bảo dưỡng, tính thời gian và lập kế hoạch. Trang 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Một số khái niệm và lý thuyết liên quan: 2.1 Bảo dưỡng là gì: Tiêu chuẩn AFNORx60-010 (Nguyễn Hồng Long, 2011) định nghĩa bảo dưỡng như sau: “là mọi việc làm có thể nhằm duy trì hoặc khôi phục một thiết bị tới một điều kiện xác định để có thể tạo ra sản phẩm mong muốn” Theo quan điểm thực hành: Bảo dưỡng là việc thực hiện các tác vụ giúp bảo tồn năng lực thiết bị qua đó đảm bảo tính liên tục và chất lượng sản xuất.
Bảo dưỡng (Jay Heizer, 2006) là tất cả các hoạt động có liên quan trong việc giữ cho các thiết bị của hệ thống làm việc. Bảo dưỡng được định nghĩa theo Kruger 2005 là một chức năng tổ chức lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát các hoạt động áp dụng để tối đa hóa thời gian, tiền bạc, nhân sự, trang thiết bị và vật liệu hướng về bảo trì của một tổng số cơ sở của tổ chức, thiết bị, dịch vụ. Từ “Bảo dưỡng” – maintenance – trong tiếng Anh xuất phát từ động từ “maintain”, có nghĩa là “duy trì”. Điều này có nghĩa là duy trì khả năng làm ra sản phẩm của máy móc thiết bị.
Hiện nay, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng cách hiểu thông dụng nhất về bảo dưỡng là duy trì hay khôi phục khả năng của máy móc thiết bị nhằm tạo ra sản phẩm có các đặc tính yêu cầu, trong thời gian cần đến chúng với tổng chi phí là thấp nhất.2 Mục tiêu bảo dưỡng: Duy dưỡng khả năng của hệ thống và thực hiện cực tiểu tổng chi phí 2.3 Sách lược về độ tin cậy và bảo dưỡng: Tầm quan trọng chiến lược của bảo dưỡng và độ tin cậy là sự hư hỏng có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động, danh tiếng, khả năng sinh lợi, khách hàng, sản phẩm, nhân viên và lợi nhuận của công ty. Có 4 phương thức quan trọng cho việc cải tiến độ tin cậy và bảo dưỡng không chỉ của sản phẩm và thiết bị mà còn của hệ thống sản xuất ra chúng. - Sách lược về độ tin cậy: Cải tiến từng bộ phận hợp thành và cung cấp dư thừa Trang 9 - Sách lược về bảo dưỡng: Thực hiện bảo dưỡng dự phòng và nâng cao khả năng sửa chữa Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa vận hành, máy móc và thợ máy là đánh dấu cho sự thành công của bảo dưỡng và độ tin cậy. Dưới đây mô tả một chiến lược bảo dưỡng tốt cần có những thủ tục về bảo dưỡng và độ tin cậy song song đó cần phải chính sách về nhân viên bảo dưỡng như huấn luyện kỹ năng, tưởng thưởng,… Ảnh hưởng đến nhân viên Chia sẻ thông tin Kết quả Huấn luyện kỹ năng Giảm tồn kho Hệ thống tưởng thưởng Cải tiến chất lượng Chia sẻ quyền lực Cải tiến năng suất Thủ tục bảo dưỡng và độ tin cậy Nổi tiếng hơn nhờ chất lượng Lau chùi và bôi trơn Cải tiến liên tục Theo dõi và điều chỉnh Thực hiện sửa chữa nhỏ Giữ báo cáo trong máy tính Hình 2.1: Chiến lược bảo dưỡng, độ tin cậy tốt 2.2 Cơ sở lập bảo dưỡng: 2.1 Đánh giá thiết bị bảo dưỡng: (Jay Heizer, 2006) - Độ tin cậy: Độ tin cậy là xác xuất mà bộ phận máy móc hoặc sản phẩm thực hiện chức năng trong thời gian cụ thể.
Độ tin cậy của các bộ phận hợp thành liên tiếp được tính như sau: R=R1*R2*R3….1) Trong đó: R1: độ tin cậy của thành phần 1 R2: độ tin cậy của thành phần 2 - Tốc độ hỏng hóc : Đơn vị cơ bản để đo độ tin cậy là tốc độ hỏng hóc được tính bằng phần trăm. Tốc độ hỏng hóc được đo bằng số hỏng hóc trên số chi tiết được thử nghiệm, FR%, hoặc số hư hỏng trong một đơn vị thời gian, FR(N) Trang 10 FR(%) = (Số hỏng hóc/số chi tiết thử nghiệm)x100% FR(N) = số hỏng hóc/số đơn vị giờ hoạt động Tốc độ hỏng hóc trong đời sống sản phẩm được mô tả dưới hình sau: Hoûng hoùc Hoûng hoùc “thoâng thöôøng” do moøn Toác ñoä hoûng hoùc Cheát yeåu vaø hoûng hoùc do söû duïng khoâng ñuùng caùch Tuoåi thoï maùy Hình 2.2 Tốc độ hỏng hóc trong vòng đời thiết bị Tốc độ hỏng hóc của máy thay đổi trong quảng thời gian tuổi thọ của máy. Lúc máy mới đưa vào hoạt động thì có tỉ lệ tốc độ hỏng hóc là lớn nhất sau đó máy dần đi vào ổn định thì các hỏng hóc của máy chỉ còn là hỏng hóc thông thường ví dụ như dây xích motor giảm tốc của băng tải bị hư hỏng do mòn. Sau thời gian chạy ổn định thì máy bắt đầu mòn hầu hết các chi tiết dẫn đến tốc độ hỏng hóc tăng lên.
- Thời gian trung bình giữa 2 hỏng hóc: thời gian mong đợi giữa sửa chữa và hư hỏng kế tiếp của bộ phận, máy móc, quá trình hoặc sản phẩm. Được đo bằng nghịch đảo của FR(N) MTBF = 1/FR(N) (2.2) - Hiệu suất tổng thể (G.R): (Nguyễn Hồng Long, 2011) là một chỉ báo kỹ thuật về khả năm làm việc, chức năng của nó là nhằm cho thấy bất cứ sự thiếu nhất quán nào. Nhờ đó cho phép phân loại và phân cấp các tổn thất và theo dõi tiến trình thực hiện công tác bảo dưỡng.3) Trong đó: E1: mức độ sẵn sàng = tổng thời gian hoạt động/tổng thời gian bậc máy E2: mức độ làm việc = Thời gian làm việc thực/tổng thời gian làm việc E3: mức độ chất lượng = thời gian làm việc hữu ích/tổng thời gian bậc máy 2.2 Các loại bảo dưỡng: Trang 11 Có nhiều loại máy và thiết bị khác nhau nên đòi hỏi có nhiều cách tiếp cận bảo dưỡng khác nhau. Gaither and Frazier (2001:743) phân biệt giữa hoạt động hỏng máy và hoạt động bảo dưỡng dự phòng như sau: Bảo dưỡng dự phòng: là những việc liên quan đến kiểm tra hàng ngày và giữ cho máy móc ở trình trạng tốt.
Bảo dưỡng dự phòng còn là việc tìm kiếm những hư hỏng tiềm năng để thay đổi hoặc sửa chữa trước nhằm ngăn ngừa hư hỏng. Bảo dưỡng dự phòng còn có nhiều ý nghĩa hơn việc giữ cho máy móc và thiết bị hoạt động được mà còn liên quan đến những thiết kế kỹ thuật và hệ thống nhân sự nhằm giữ cho quá trình sản xuất có một khoảng dung sai, nó cho phép hệ thống có thể hoạt động. Và điểm nhấn mạnh của bảo dưỡng dự phòng là hiểu việc quá trình và giữ cho nó hoạt động không bị gián đoạn. Bảo dưỡng dự phòng là: - Kiểm tra và bảo dưỡng thường lệ: - Ngăn ngừa máy hỏng Hỏng máy: Việc bảo dưỡng khi hỏng máy là mang tính kiểm tra và bảo dưỡng không thường lệ, chỉ chữa cháy.
Bảo dưỡng hỏng máy là che đậy những vấn đề của nhà máy như vấn đề thiết kế, kỹ thuật và con người. Mà hơn nữa là làm cho chi phí sản xuất tăng lên như chi phí xử lí hư hỏng sản phẩm, ảnh hưởng đến vấn đề tồn kho, khách hàng. Loại bảo dưỡng này được áp dụng khi: - Loại bảo dưỡng này thường được áp dụng khi dễ dàng sửa chữa khi máy hỏng, điều đó làm cho lãng phí và ảnh hưởng do hỏng hóc tới máy khác là rất nhỏ - Sự biến động về xu hướng xuống cấp là rất lớn và khó tiến hành kiểm tra máy thường xuyên 2.3 Quan điểm chi phí bảo dưỡng: (Jay Heizer, 2006) Quan điểm truyền thống: Trang 12 Hình 2.3 Tổng chi phí bảo dưỡng theo quan điểm truyền thống Trong quan điểm này thì người quản lý vận hành quan tâm đến điểm cân bằng giữa hai chi phí bảo trì ngăn ngừa và bảo trì sửa chữa máy hỏng. Nếu tập trung nhiều nguồn lực cho bảo trì ngăn ngừa thì sẽ giảm số lần hư hỏng.
Tuy nhiên việc giảm chi phí sửa chữa máy hỏng có thể ít hơn tăng chi phí ngăn ngừa. Trước điểm tối ưu thì người quản trị sẽ quan tâm sửa chữa và bảo dưỡng để có được tổng chi phí là thấp nhất. Quan điểm chi phí toàn bộ: Hình 2.4 Tổng chi phí theo quan điểm hiện đại Tuy nhiên, đường cong tổng chi phí như trong quan điểm truyền thống hiếm quan tâm đến tổng chi phí toàn bộ của việc hỏng máy. Nhiều chi phí đã được bỏ qua bởi vì nó không ảnh hưởng trực tiếp đến việc hư hỏng ngay lập tức.
Ví dụ, chi phí tồn kho trong thời gian máy hư thì không quan tâm. Hơn nữa, người sửa chữa có thể tin rằng thực hiện tiêu chuẩn và bảo trì thiết bị là không quan trọng, cuối cùng bất lợi đến việc giao hàng, mối quan hệ với khách hàng và bán hàng trong tương lai. Quan điềm này có thể tốt hơn quan điểm truyền thống là tổng chi phí nhỏ nhất tại thời điểm hệ thống không ngừng hoạt động.4 Thời gian bảo dưỡng máy: (B.Mahadevan , 2010) Chính sách bảo dưỡng ngăn ngừa tối ưu (optimal preventive maintenance policy): chúng ta quan tâm đến 1 thiết bị có thể bảo dưỡng ngăn ngừa (PM) hay bảo dưỡng hư hỏng. Khi bảo dưỡng ngăn ngừa được thực hiện chỉ sau vài lần kiểm tra, 1 thành phần chắc chắn được thay thế đây chính là chi phí ngăn ngừa.
Tần suất mà bảo dưỡng ngăn ngừa được hiểu như là chu kỳ bảo dưỡng ngăn ngừa. Ví dụ: quyết định bảo dưỡng 3 tháng /1 lần khi đó chu kỳ phòng ngừa là 3 tháng. Người quản lý bảo dưỡng quan tâm đến chu kỳ bảo dưỡng này. Khi đó với chương trình bảo dưỡng phòng ngừa này thì thiết bị hư gọi là xác suất chắc chắn.
Khi thiết bị hư hỏng và sửa chữa gọi đó là chi phí bảo dưỡng hư hỏng. Chi phí bảo dưỡng gọi là tổng của 2 chi phí này. Chúng ta sử dụng kí hiệu sau đây: CPM: Chi phí bảo dưỡng ngăn ngừa cho 1 thiết bị CBD: Chi phí hư hỏng cho 1 thiết bị M: số thiết bị cần bảo dưỡng. n: Số giai đoạn trong kế hoạch pi: Xác suất hư hỏng trong giai đoạn i sau khi bảo dưỡng ngăn ngừa.
Bi: Số hư hỏng trong giai đoạn i của chu kì bảo dưỡng ngăn ngừa.