CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Logistics có mối quan hệ hai chiều với thương mại quốc tế và là nhân tố quan trọng trong việc giảm đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Chi phí logistics thấp tạo sự thông thoáng trong lưu chuyển thương mại hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng, làm cho năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng và ngược lại. Trong chương này, nhóm tác giả sẽ tập trong làm rõ cơ sở lý luận về logistics, vai trò của logistics đối với nền kinh tế, và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành dịch vụ này. Khái niệm và sự phát triển của logistics 1.
Khái niệm Khái niệm về “Logistics” bắt đầu từ hoạt động chiến tranh, được sử dụng bởi các vị tướng Hy Lạp từ nhiều năm trước Công Nguyên nhằm mô tả tất cả quy trình của quân đội về mua sắm thực phẩm, quần áo, đạn dược,. Tiêu biểu trong số đó là Alexander Đại Đế, ông không muốn quân đội của mình phải dừng lại trong qua trình hành quân để chờ đợi nguồn cung từ Macedonia. Vì vậy, ông đã cố gắng để giải quyết các vấn đề bằng cách sử dụng nguồn cung cấp từ các nguồn lực địa phương của kẻ thù bị đánh bại của mình. Điều này cho thấy logistics là một vấn đề quan trọng trong chiến tranh và một trong những yếu tố chủ chốt quyết định khả năng thắng trận.
Trong tạp chí “Scotland, Edinburgh và văn học Miscellany cho tháng 1 năm 1810”, tiến sĩ William Muller của Đại học Gottingen được cho là người đã trình bày thuật ngữ "Logistics" lần đầu tiên bằng tiếng Anh trong kế hoạch giới thiệu cuốn sách có tên "Các yếu tố của nghệ thuật chiến tranh". Sau đó, vào năm 1811, Muller đã đổi ý và đặt lại tên cho cuốn sách thành "Các yếu tố khoa học của chiến tranh”. Cuốn sách này bao gồm các chiến thuật cho bộ binh, kỵ binh, pháo binh và lính phụ trách xây dựng cầu. Muller đã giải thích một cách rất toàn diện về cách thức từng loại lính nên thực hiện, trong đó bao gồm diễu hành, vận chuyển, xoay, tiến, hình thành, vận chuyển vũ khí hạng nặng, làm thế nào để qua sông.
Và bản thân các nhà lãnh đạo quân sự cần phải có kiến thức sâu sắc về nhiều lĩnh vực để có thể tiến hành các chiến dịch quân sự hiệu quả. Thuật ngữ "Logistics" từ năm 1811 đã được dùng để chỉ những hoạt động thực tiễn như chúng ta biết và áp dụng hiện nay như: lâp kế hoạch chiến lược, hợp tác (tiến hành khi ba quân loại khác nhau chiến đấu với nhau), truyền thông, địa lý, nhân sự, tổ chức cơ cấu (sắp xếp và hình thành quân đoàn khác nhau), mua sắm (nhu yếu quân sự và kinh 11 tế) và chi phí. Vì vậy, tiến sĩ William Muller được mệnh danh là "Cha đẻ của Logistics" và "Các yếu tố khoa học của chiến tranh" được xem là cuốn sách giáo khoa đầu tiên về logistics. Ngày nay, khái niệm về logistics đã được đề cập trong nhiều tài liệu học thuật, chẳng hạn, theo Lambert (1998), logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hoá, dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Còn theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP) (2013), logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Thuật ngữ logistics hay được nhắc cùng với thuật ngữ “chuỗi cung ứng”. Sự khác biệt giữa 2 thuật ngữ đôi khi khá khó phân biệt. Dựa trên các nghiên cứu trước, Larson và các cộng sự (2007) tổng hợp ra bốn cách thức xác định sự khác biệt giữa hai khái niệm này như sau: Hình 1.
Các quan điểm khác nhau về phân biệt “logistics” và “chuỗi cung ứng” Nguồn: Larson và các cộng sự, 2007 (1) Theo quan điểm truyền thống của quản trị chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng là một bộ phận của logistics. (2) Chức danh "nhà phân tích logistics" sẽ được đổi thành "nhà phân tích chuỗi cung ứng" nếu các công ty cảm thấy quản trị chuỗi cung ứng là một thuật ngữ mới cho ngành logistics. 12 (3) Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng quản trị chuỗi cung ứng là một quá trình liên kết phối hợp với nhau, trong đó, logistics là một bộ phận. (4) Hai thuật ngữ này khác biệt nhau, mặc dù có một số phạm vi hoạt động trùng lắp, tương tự nhau.
Tại Việt Nam, mặc dù hoạt động logistics đã xuất hiện từ trước năm 1954 và bắt đầu phổ biến vào những năm 90 của thế kỉ XX, nhưng mãi đến năm 2005, Luật Thương mại mới quy định về hoạt động này. Theo điều 233 Luật Thương mại định nghĩa: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Như vậy, nội dung Điều 233 nói trên vừa định nghĩa thông qua việc liệt kê một số hoạt động điển hình của logistics, vừa nhấn mạnh vào tính chất dịch vụ của hoạt động này khi một doanh nghiệp đứng ra nhận làm các công việc đó để hưởng thù lao từ doanh nghiệp có hàng hóa. Định nghĩa như trên là phù hợp trong bối cảnh Luật Thương mại khi Luật này cũng quy định logistics tương tự với các dịch vụ khác như môi giới, nhượng quyền, giám định, đại lý, gia công.
Tóm lại, ở Việt Nam, logistics và chuỗi cung ứng cũng được sử dụng thay thế cho nhau. Nhưng trên thực tế đa số các nhà nghiên cứu thống nhất hai khái niệm này có những điểm khác biệt nhất định. Chuỗi cung ứng nói chung là một chuỗi các hoạt động được kết nối với nhau trong quá trình hình thành một sản phẩm và đưa sản phẩm đó đến tay người dùng. Trong khi đó, logistics nhấn mạnh vào hướng quản lý, tác động vào chuỗi hoạt động này để tạo ra hiệu quả lớn nhất cho doanh nghiệp.
Từ một góc độ khác, chuỗi cung ứng cho thấy sự quan tâm của chính các công ty sản xuất và kinh doanh đối với sự di chuyển của hàng hóa trong công ty của họ. Logistics được dùng để chỉ các dịch vụ được cung cấp bởi các công ty chuyên nghiệp. Theo nghĩa này, logistics là một ngành dịch vụ hoặc kinh doanh. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành dịch vụ logistics 1.
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng hưởng hết sức to lớn trong quy hoạch phát triển ngành logistics của bất cứ quốc gia và lãnh thổ nào, bởi đây là một ngành dịch vụ có sự phụ thuộc rất lớn vào sự thuận tiện của hệ thống đường bộ, đường 13 sông, đường biển và khả năng trở thành đầu nút giao thông quan trọng trong và ngoài nước. Một quốc gia nếu không có đường bờ biển sẽ không thể phát triển hạ tầng cảng biển và vận tải biển. Trong khi đó, nếu một quốc gia có địa hình bằng phẳng với nhiều đường biên giới trên bộ sẽ hướng sự tập trung phát triển hạ tầng logistics tới phát triển hệ thống đường bộ xuyên quốc gia. Do vậy, khi nghiên cứu phát triển hệ thống logistics, các quốc gia đều dựa trên điều kiện tự nhiên địa lý của mình để xây dựng chiến lược tổng thể, thậm chí còn đưa ra những phương án tác động vào điều kiện tự nhiên, điều chỉnh một phần điều kiện địa lý theo hướng có lợi cho phát triển logistics, bởi phát triển logistics đem lại rất nhiều lợi ích cho kinh tế một quốc gia.
Việt Nam có phần đất liền giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia; và đường bờ biển dài hơn 3000km, giáp với vùng biển của Malaysia, Thái Lan, Philippin, Trung Quốc và Campuchia.1 Điều này tạo điều kiện giao thương thuận lợi cả bằng đường bộ và đường thủy với các nước láng giềng. Bên cạnh đó, vị trí chiến lược ở rìa đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á, nằm trên các đầu mối giao thông đường biển và đường hàng không quốc tế quan trọng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nằm ở vị trí chuyển tiếp đặc địa, nước ta được xem như là nơi kết nối giao thông thuận lợi với khu vực Đông Nam Á và liên thông vào mạng lưới chung về giao thông với Châu Á và thế giới. Đây là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi cho Việt Nam trong việc phát triển dịch vụ logistics, qua đó tạo tiền đề thúc đẩy hoạt động sản xuất, thương mại, tăng cường thu hút đầu tư và tạo công ăn việc làm cho người dân.
Sự phát triển kinh tế và gia tăng quy mô sản xuất Sự tăng trưởng kinh tế và gia tăng quy mô sản xuất hàng hoá, dịch vụ là nhân tố cơ bản giúp thúc đẩy sự tăng trưởng ngành. Tín hiệu khả quan của nền kinh tế khiến sức mua tăng, tạo động lực cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nền kinh tế. Từ đó, góp phần gia tăng nhu cầu đối với dịch vụ logistics. Một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế và gia tăng quy mô sản xuất là sự gia tăng năng suất lao động.
Sản xuất có hiệu quả tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá phát triển ngày càng nhanh. Việc tổ chức đưa hàng hoá đến 1 Cổng thông tin điện tử chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Một số thông tin về địa lý Việt Nam http://www.vn/cttdtcp/vi/nuocchxhcnvn/thongtintonghop/thongtintonghop_dialy.html 14 tay người tiêu dùng nhanh dẫn đến nhu cầu về sản xuất ngày càng tăng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành logistics. Chính sách và định hướng của quốc gia Các hoạt động của nền kinh tế quốc dân chịu sự điều tiết và ảnh hưởng của hệ thống chính trị của một quốc gia. Logistics do đó tất yếu chịu ảnh hưởng và điều tiết của hệ thống chính sách.