Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1. Khái niệm về giao kết hợp đồng tín dụng Từ trước đến nay, pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí quan trọng trong pháp luật Việt Nam, hầu hết các giao dịch trong xã hội đều liên quan đến hợp đồng. Do đó, các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 liên quan đến hợp đồng dân sự nói chung chiếm một phần không nhỏ. Mục đích của pháp luật về hợp đồng nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên.
Hợp đồng hiểu theo nghĩa rộng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về một vấn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền hay nghĩa vụ của các bên đó. Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 đã đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự như sau: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ đối với nhau”. Khái niệm “Tín dụng” có nguồn gốc từ thuật ngữ Latinh “Creditium” có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn.
Theo đó, tín dụng là quan hệ kinh tế trong đó một chủ thể thỏa thuận để các chủ thể khác được sử dụng một số vốn nhất định của mình (dưới hình thức hàng hóa hoặc tiền tệ) và số vốn này bao giờ cũng được hoàn trả trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên cơ sở có sự tín nhiệm. Về bản chất, hợp đồng tín dụng là một dạng của hợp đồng vay tài sản. Do đó, để hiểu được hợp đồng tín dụng là gì thì trước hết phải nghiên cứu khái niệm hợp đồng vay tài sản. Theo Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 thì: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Ngoài ra, cũng có nhiều quan điểm về hợp đồng tín dụng như: “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do Luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, dựa trên sự tín nhiệm” [23]. 7 luan an Hay: “Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (gọi là bên cho vay) và khách hàng vay vốn (gọi là bên đi vay), theo đó bên cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiền nhất định để sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và khi hết hạn đó, bên đi vay phải hoàn trả lại cả gốc và lãi” [22]. Từ các định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể hiểu: hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (bên vay) nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo đó tổ chức tín dụng (bên cho vay) giao hoặc cam kết giao cho khách hàng (bên vay) một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Bản chất của hợp đồng bao giờ cũng là sự thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì không có hợp đồng.
Nhưng chỉ được coi là hợp đồng tín dụng khi các bên tham gia nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Mỗi chủ thể tham gia giao kết hợp đồng tín dụng đều có mục đích, động cơ nhằm hướng tới lợi ích nhất định. Vì vậy, khi giao kết hợp đồng tín dụng các bên có thể tự do bày tỏ ý chí của mình theo nguyên tắc và trình tự nhất định, cùng thỏa thuận để đi đến thống nhất thành ý chí chung và nếu ý chí chung đó phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng đó được coi là có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Giao kết hợp đồng tín dụng là giai đoạn quyết định việc có tiến tới xác lập hợp đồng hay không và liên quan tới thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
Trước tiên, là việc một bên biểu hiện ý chí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết với người đó một HĐTD. Bên đề nghị phải đưa ra những điều khoản của hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng. Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Quy trình giao kết hợp đồng tín dụng phải đảm bảo các yếu tố sau: - Ý chí muốn xác lập hợp đồng của mỗi bên được biểu hiện ra bên ngoài.
- Có sự thông nhất ý chĩa giữa các bên Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Bên đề nghị có thể gặp mặt trực tiếp với người được đề nghị trao đổi, thỏa thuận 8 luan an hoặc có thể thông qua điện thoại, chuyển công văn, giấy tờ qua đường bưu điện. Bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong các trường hợp sau: - Bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị - Bên đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị và điều kiện đó đã đến. Ngoài ra, đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt khi bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc trả lời chấp nhận chậm.
Tiếp theo, chấp nhận đề nghị giao kết HĐTD là việc bên được đề nghị nhận lời và đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với bên đề nghị. Về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả lời ngay về việc có giao kết hợp đồng hay không. Trong những trường hợp, cần phải có thời gian để bên được đề nghị cân nhắc, suy nghĩ mà các bên đã ấn định thời hạn trả lời thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn đó. Nếu sau thời hạn nói trên, bên được đề nghị mới trả lời về vệc chấp nhận giao kết hợp đồng thì lời chấp nhận đó được coi như một lời đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Nếu việc trả lời được chuyển qua đường bưu điện thì ngày gửi đi theo dấu của bưu điện được coi là thời điểm trả lời. Căn cứ vào thời điểm đó để bên đã đề nghị xác định việc trả lời có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định. Bên được đề nghị có thể chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị, cũng có thể chỉ chấp nhận một phần trong nội dung đó hoặc có thể chỉ chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng không đồng ý với nội dung mà bên đề nghị đưa ra. Nghĩa là trong những trường hợp này, bên được đề nghị muốn sửa đổi hoặc thay đổi nội dung mà bên đề nghị đưa ra.
Vì vậy, họ sẽ trở thành bên đề nghị mới và bên đã đề nghị trước đó lại trở thành bên được đề nghị. Bên đề nghị mới cũng chịu sự ràng buộc của mình về những nội dung đã đề nghị. Sự hoán vị này có thể xảy ra nhiều lần cho đến khi nào các bên thống nhất thỏa thuận được với nhau toàn bộ nội dung của hợp đồng thì sẽ đi đến giao kết hợp đồng tín dụng. Để thực hiện hoạt động cấp tín dụng, TCTD phải giao kết và tiến hành ký kết hợp đồng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Trong giao kết HĐTD, TCTD luôn tham gia với tư cách là chủ thể cấp tín dụng nhằm phân phối lại nguồn vốn đã huy động từ tổ chức và cá nhân khác trong xã hội. Với tư cách là chủ thể cấp tín dụng, TCTD phải thẩm định được phương án vay vốn, tính hiệu quả của việc sử 9 luan an dụng vốn vay. Điều này là vô cùng cần thiết vì nó có khả nẳng hoàn trả nợ vay của bên vay. Việc đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng được thực hiện bằng những hình thức khác nhau: văn bản viết, lời nói hoặc phương tiện khác.
Việc trả lời do hai bên thỏa thuận: trả lời ngay hoặc một thời hạn do hai bên ấn định. Khi bên đề nghị giao kết có thời hạn ấn định trả lời thì việc chấp nhận giao kết hợp đồng chỉ có giá trị khi được thực hiện trong thời hạn đó. Nếu sự chấp nhận diễn ra sau thời hạn đó thì được xem như là một đề nghị giao kết hợp đồng mới. Bên đề nghị giao kết có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong trường hợp: khi bên được đề nghị giao kết chưa nhận được lời đề nghị hoặc bên đề nghị giao kết nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại lời đề nghị.
Cơ sở pháp lý và nội dung pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng tín dụng 1. Cơ sở pháp lý Trong hệ thống các tổ chức tín dụng, ngân hàng được coi là một trong những đơn vị có vị trí quan trọng nhất, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang là thành viên của rất nhiều các tổ chức kinh tế thế giới, đòi hỏi cần thay đổi đề bắt kịp với các nước trong cùng khối cộng đồng là hết sức cần thiết. Nhằm phối hợp nhịp nhàng giữa nguồn cung và cầu vốn thì điều kiện cần là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động tài chính quốc gia cần được hoàn thiện và là nền tảng cho các tổ chức trong nền kinh tế, đặc biệt là các văn bản điều chỉnh những quan hệ của các tổ chức tín dụng. Mọi hoạt động của tổ chức tín dụng đều tác động đến nền kinh tế - xã hội của đất nước.
Do đó mà quá trình quản lý các hoạt dộng của tổ chức tín dụng đã và được được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm chú trọng. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo hoạt động của tổ chức tín dụng có tầm ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế nước nhà, đồng thời định hướng cho sự phát triển của chính các tổ chức tín dụng. Cùng với đó, hoạt động giao kết hợp đồng tín dụng tại Việt Nam cần dựa trên khung pháp lý cụ thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà thực tiễn đang đặt ra.